MẬU THÂN
1968
VÀ CUỘC
THẢM SÁT
TẠI
HUẾ
(Tài
liệu và Chứng từ)
Tập
1
Như nén hương
ḷng dâng lên các Oan hồn
nhân kỷ niệm 40
năm Biến cố đau thương
Khối
8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam
01-2009
MỤC LỤC
I- NGHIÊN CỨU TỔNG QUÁT trang 6
- Biến cố Tết Mậu Thân (Đinh Lâm
Thanh)
6
- Tết Mậu Thân 1968 (Trọng
Đạt) 13
II- TƯỜNG THUẬT CHI TIẾT 35
- Cuộc
thảm sát tại Huế (TIME 31-10-1969) 35
- Chứng nhân thầm
lặng Mậu Thân ở Huế (Liên Thành) 38
- Mậu Thân, nỗi
đau không dứt của Huế (Lê Hàn Sinh) 49
- Cố Đô Kinh Hoàng (Elje Vannema) 54
- Cuộc thảm sát
tại khe Đá Mài (Ng. Hữu
Giải và Ph. Văn Lợi) 70
III-
NHẬN ĐỊNH TỔNG HỢP 90
- Từ Mậu Thân
đến Mậu Dần… (Trần
Nam Ân) 90
- Xuân nhớ Huế Mậu Thân 68… (Hồng Lĩnh) 98

Liên lạc với
Khối
8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam
http://khoi8406vn.blogspot.com/
LỜI GIỚI THIỆU
Quư vị và các bạn trẻ
thân mến
Trong ḍng lịch sử
Việt Nam, hiếm có biến
cố nào gây chấn động cho Dân tộc
bằng biến cố tết
Mậu Thân năm 1968. Nó đă qua đi hơn 40
năm rồi, nhưng chúng ta không thể không nhắc
lại, v́ nhiều lư do:
1-
Do nhu cầu công bố sự thực: Quả vậy,
theo các sử liệu và chứng từ, đó là một
cuộc xâm lăng miền Nam bởi những kẻ
thấm nhiễm chủ nghĩa Cộng sản phi nhân
bản, phản dân tộc đến từ miền Bắc
hoặc “nằm vùng” tại chỗ. Cuộc xâm lăng
ấy đă gây đổ nát, đau thương cho nửa
đất nước, đặc biệt là ở Huế.
Đau thương v́ đó là một cuộc tàn sát chính
đồng bào ruột thịt, lại đa phần là
những con người vô tội, ngay trong chính những
ngày Tết thiêng liêng của đất nước. Quân Tàu
rồi quân Pháp từng xâm lược tổ quốc, chiếm
cứ thành thị nhưng chưa bao giờ tàn sát dă man Đồng
bào ta như thế. Vậy mà những người Cộng
sản vẫn cố t́nh bóp méo lịch sử mà gọi
đó là cuộc “Tổng công kích và nổi dậy”, một
“điểm son chói lọi của lịch sử dân
tộc… một sáng tạo độc đáo của
chiến tranh cách mạng Việt Nam” !?!
2- Do nhu
cầu đ̣i hỏi công lư: Vô số nạn nhân vô tội,
già có trẻ có, nam có nữ có, cả học sinh, sinh viên,
trí thức lẫn tu sĩ, viên chức, dân thường thời
ấy đă bị giết chết bằng nhiều
kiểu cách hết sức tàn bạo như đánh vỡ
sọ bằng cuốc và báng súng, trói thành chùm rồi
thảy lựu đạn vào hay xâu thành giây rồi
đẩy xuống hố chôn sống. Thế nhưng
những kẻ gây ra tội ác, tới giờ phút này,
vẫn cứ cho đó là chiến thắng để ăn
mừng, cho đó là cuộc trừng phạt “những
kẻ có nợ máu với nhân dân” để mà hănh diện.
Hàng
trăm ngàn nạn nhân của cuộc thảm sát này -măi đến
hôm
nay- vẫn chưa
nghe được một lời nói tạ lỗi
và thấy được một cử chỉ sám hối
từ phía các tay đồ tể là đảng Cộng
sản Việt Nam, đồng bào ruột thịt của họ.
Chúng ta nói là hàng trăm ngàn người, v́ ngoài con số
14.300 nạn nhân vô tội nêu trên (riêng Huế chiếm
gần một nửa), c̣n phải kể đến 100.000
bộ đội miền Bắc (con số do chính CS
đưa ra) đă bị nướng vào cuộc tàn sát dân
tộc này. Đó là chưa tính hàng triệu thân nhân của
họ. Tuy kẻ chủ xướng vụ việc là
Hồ Chí Minh và các lănh đạo cao cấp trong
đảng CS thời ấy nhưng giới cầm
quyền tại Việt Nam hôm nay vẫn tiếp tục
mang trách nhiệm.
Chúng tôi tung ra các tài liệu này
(nhiều tập nhỏ liên tiếp, xin đón đọc)
không phải như lời kêu gọi trả thù, báo oán
nhưng như một nỗ lực khai trí cho các thế
hệ sinh sau 1968, một cố gắng “khai tâm” cho
những người CS mù quáng hận thù, và nhất là như
nén hương ḷng tưởng nhớ các đồng bào
nạn nhân vô tội trong biến cố Tết Mậu Thân.
Khối Tự do Dân
chủ cho Việt Nam 8406
I- NGHIÊN CỨU TỔNG
QUÁT
Biến cố
Tết Mậu Thân
Đinh Lâm
Thanh
Bài thuyết tŕnh trong dịp tưởng
Niệm 40 năm biến cố Mậu Thân tổ chức tại Paris ngày
02.03.2008
Kính
thưa Quư Vị
Tôi
được ban tổ chức có nhă ư mời tham gia
đề tài ‘Biến cố Tết Mậu Thân’ trong
dịp ‘Truy Điệu và Tưởng Niệm Nạn Nhân’
hôm nay. Tôi xin cám ơn ban tổ chức và hân hạnh tŕnh
bày cùng quư vị một vài điểm quan trọng, bài
viết chia làm 3 phần : Thứ
1. Diễn tiến của quân Cộng sản kéo vào đánh
hai thành phố lớn Sài G̣n và Huế. Thứ 2. Tội ác
của Cộng sản gây ra trong ‘Biến Cố Năm
Mậu Thân 1968’. Thứ 3. Âm mưu đen tối và thất
bại chính trị của một cuộc xâm lăng
điên cuồng.
1.
DIỄN TIẾN QUÂN CỘNG SẢN BẮC VIỆT TẤN
CÔNG VNCH.
Trong
dịp Tết Mậu Thân, các đây 40 năm, Cộng
sản Bắc Việt không tôn trong lệnh hưu chiến
mà họ đă cam kết với Việt Nam Cộng Ḥa và
Đồng Minh. Chính Hà Nội đề nghị việc
hưu chiến để dân chúng hai miền Nam Bắc vui
Xuân trong những ngày Tết. Phía Việt Nam Cộng Ḥa và
Đồng Minh thi hành đứng đắn thỏa
hiệp nầy : Mỹ không oanh tạc Miền Bắc,
cũng như các hang ổ và vị trí chuyển quân
Cộng sản tại Miền Nam. Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa ngưng các cuộc hành quân lục soát và truy kích
bộ đội Bắc Việt, đồng thời cho
phép một nửa quân nhân đồn trú các cấp về
ăn Tết với gia đ́nh. Ngay đêm giao thừa, chính
già Hồ đă ra lệnh, qua lời chúc Tết, cho hàng
chục sư đoàn chính quy Bắc Việt đồng
loạt khai hỏa tấn công Việt Nam Cộng Ḥa. Tṛ
lưu manh tráo trở của già Hồ và bè lũ
đảng Cộng sản là đề nghị hưu
chiến rồi xua quân đánh úp vào trọng tâm các cơ
sở quân-dân-sự trong lúc toàn dân Miền Nam đang
chuẩn bị đón giao thừa.
-
Mặt trận Sài G̣n :
Cộng
sản Bắc Việt đă chuẩn bị đánh Sài G̣n
từ tháng 4 năm 1965. Một tổ đặc công
được thành lập tại Sài G̣n, Gia Định
với bí số T300 thuộc quân khu 6 do Đỗ Tân Phong
chỉ huy. Súng ống đạn dược
được chuyển vào SG và cất giấu trong 8
hầm bí mật của các tên nằm vùng : Năm Lai ở
Gia Định, Nguyễn Thị Phê, Đỗ Văn
Căn ở Sài G̣n. Bộ chỉ huy Đặc công
đặt tại tiệm phở B́nh Ba Đen, phân công cho
các cán bộ CS Bắc Việt nằm vùng như sau : Ngô
Thanh Vân chỉ huy đánh Ṭa Đại sứ Mỹ, Trần
Phú Cương đánh Đài Phát thanh, Lê Tấn Quốc
tấn công Dinh Độc lập và Đỗ Tân Phong
đột kích Bộ Tổng tham mưu.
Tại
Sài G̣n, CS Bắc Việt tấn công 3 đợt, bắt
đầu đêm mồng Một Tết chúng xử
dụng lực lượng Biệt Động Thành F-100
gồm 4 tiểu đoàn đặc công và 11 tiểu đoàn
chính quy của Cục R do Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ,
Lê Đức Anh, Vơ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh và
Trần Bạch Đằng chỉ huy đánh vào khu vực
Sài G̣n-Chợ Lớn. Ngoài ra sư đoàn 7 và sư đoàn
9 Cộng sản ứng chiến sẵn sàng gởi quân
tiếp viện. Về phía VNCH ngoài lực lượng
CSQG, các đơn vị cơ hữu chuyên môn c̣n có
Chiến Đoàn 1 Dù (TĐ 1, 6 và 8) từ vùng I về
cộng với Liên Đoàn BĐQ (TĐ 30, 33, 34 và 38) và Chiến
Đoàn B của TQLC. QLVNCH đă chiếm lại đài phát
thanh Sàigon và cổng số 4 của Bộ Tổng Tham
Mưu sau một đêm hai đơn vị nầy nằm
trong tay quân CS Bắc Việt.
Tại
Thủ Đô, quân Cộng sản pháo kính bừa băi vào các
đơn vị của VNCH cũng như vào những khu
đông dân cư tạo nên cảnh hỗn loạn. Dù hai bên
đang đánh nhau nhưng đường phố Sài g̣n lúc
nào cũng đông người. Đó là những nạn nhân
vùng ven đô và ngoại ô kéo vào thành phố, rối loạn
t́m nơi trú ẩn v́ khu nào cũng xảy ra giao tranh ác
liệt. Điều nầy chứng minh rơ ràng, dân chúng
tại Sài G̣n chạy trốn Cộng sản, không ai
nổi dậy theo chân bộ đội như lối tuyên
truyền tráo trở của bọn chúng.
-
Mặt trận Huế :
Mục
tiêu của Hà Nội là dồn nỗ lực chính để
đánh chiếm các thành phố lớn trong đó Sài G̣n và
Huế là hai mặt trận chính. Trại lực
lượng A-Shau trên địa đầu phía Bắc
Việt Nam Cộng Ḥa rút đi nên thung lũng A Shau bị
bỏ ngỏ và CS Bắc Việt đă lợi dụng
để chuyển một số lớn bộ đội
chính quy vào tấn công Cố Đô Huế.
Cộng
sản Bắc Việt mở màn trận chiến vào hai
giờ sáng ngày Mồng Hai Tết, nhằm ngày 31-01-1968
bằng hai cánh quân : Đoàn 6 gồm các tiểu đoàn
đặc công K1, K2, K6 và K12 từ phía Bắc bên tả
ngạn sông Hương tấn công BTL/SD1 tại đồn
Mang Cá, phi trường Tây Lộc, Đại Nội.
Đoàn 5 gồm có các tiểu đoàn K4A, K4B, K10 và K21 từ
hướng Nam hữu ngạn sông Hương, hợp
với Thành Đội tấn công các cơ sở hành chánh
phía Nam. Ngoài ra có Đoàn 9 gồm 2 tiểu đoàn 416, 418
hợp với tiểu đoàn 12 đặc công tấn công
vào mặt Tây của thành phố.
Cộng sản Bắc
Việt tổ chức đánh bất ngờ và đă
chiếm được trên một nửa thành phố
Huế gồm cơ sở hành chánh, khu Đại Nội,
chợ Đông Ba, các cửa Thượng Tứ, An Ḥa và
Chánh Tây. Ngoại trừ BTL/SĐ I tại đồn Mang Cá
trong Thành nội, MACV, Tiểu khu Thừa Thiên, đài phát
thanh, trường Kiểu Mẫu và các cầu tàu Hải
Quân vẫn do QLVNCH kiểm soát.
Ngày
mồng Ba Tết, nghĩa là một ngày sau đó, Chiến
Đoàn Dù với 2 tiểu đoàn 2 và7 phối hợp
với chi đoàn 2/7 từ phía Bắc vào giải vây
Huế. Hai đại đội TQLC với chiến xa M48
thuộc tiểu đoàn X-Ray đóng tại Phú Bài cũng về
Huế tăng cường pḥng thủ MACV. Chiều ngày mồng
Bốn Tết, Tiểu Đoàn 9 Dù được trực
thăng vận đổ xuống thẳng vào trận
địa. Cuộc chiến trở nên ác liệt và cùng ngày
đó, chiến đoàn A TQLC của QLVNCH gồm các tiểu
đoàn 3, 4, 5 thay thế chiến đoàn Dù phối hợp
với SĐ I BB tiếp tục giải tỏa áp lực
tại sân bay Tây Lộc và Đại Nội. Ngày 19-2 TQLC
mở chiến dịch Sóng Thần 739/68 và ngày 25-2, BĐQ
chiếm lại Khu Gia Hội chấm dứt chiến
cuộc tại Huế với đổ nát, điêu tàn. Nhà
cửa cầu cống, cây cối, đường sá
trở thành tử địa với xác người
nằm la liệt thối śnh…
Vừa
chiếm được Huế, CS Bắc Việt đă
vội vàng thành lập hai tổ chức hành chánh và hành
động.
· Về Hành chánh : Cộng
sản Bắc Việt chỉ thị cho những tên CS chính
gốc nằm vùng tại nhà Nguyễn Đóa là Hoàng Kim Loan,
Hoàng Lanh, Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Hữu Vân, Phan Nam,
Nguyễn Thiết… đưa những người
địa phương ra lập các tổ chức hành chánh
:
-
Chính quyền cách mạng tại Huế giao cho Lê Văn
Hảo, Đào Thị Xuân Yến và Hoàng Phương
Thảo. (Xin nói riêng về ông Lê Văn Hảo : là giáo sư
Đại Học Huế, người Công Giáo, không có tên
trong danh sách tham gia các phong trào tranh đấu của
Phật Giáo. Do đó sau 1966 ông vẫn được
tiếp tục dạy Đại học Văn khoa
Huế. Nhưng sau đó cũng bị Cảnh Sát bắt
v́ đă để cho Sinh viên theo Cộng sản xử
dụng nhà riêng in ấn và phát hành báo chống Mỹ,
ủng hộ Cộng sản. Sau đó ông được
thả về trước Tết mấy ngày th́
được CS đưa lên làm Chủ tịch Liên minh
Dân chủ Dân tộc Ḥa b́nh. Sau năm 1975 được
Cộng sản thưởng công cho chức Trưởng ty
Thông tin Văn hóa B́nh-Trị-Thiên, chứ không
được vào quốc hội như Thích Đôn Hậu
và bà Nguyễn Đ́nh Chi. Nhân dịp đi Australia, Lê Văn
Hảo trốn qua Pháp và xin tỵ nạn tại đây.)
-
Liên Minh các lực lượng Dân Tộc, Dân Chủ Ḥa B́nh
do Lê Văn Hảo làm chủ tịch, thượng tọa
Thích Đôn Hậu, Bà Nguyễn Đ́nh Chi làm phó chủ
tịch và Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng
thư kư.
Tay
sai gây nên tội ác như Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Tôn
Thất Dương Tiềm… là những tên nằm vùng,
từ năm 1963 đến 1966, tham gia trong phong trào tranh
đấu của Phật giáo và chạy vô bưng khi phong
trào nầy bị đàn áp. Nhân vụ Tết Mậu Thân
chúng trở lại hoạt động và gây tang tóc cho
Huế.
· Về Hành Động : Do
tên Lê Minh, đại tá, trưởng ban An Ninh Khu Ủy
Trị-Thiên chỉ huy toàn bộ, Tống Hoàng Nguyên và
Nguyễn Đ́nh Bảy Khiêm là đảng viên Cộng
sản Bắc Việt chỉ huy các tên HPNT, HPNP, NĐX,
Trần Quang Long, Phan Duy Nhân đi lùng bắt, thủ tiêu
những người mà chúng cho là ‘ác ôn’, ‘có tội với
nhân dân’. Nhưng thật ra là thường dân Công giáo vô
tội, những người trước đó có thù oán cá
nhân với nhau và quân cán chính đang nghỉ phép để
ăn Tết với gia đ́nh.
2. TỘI ÁC DO CỘNG SẢN
BẮC VIỆT GÂY RA
Tính
chung tổng số trên toàn quốc về thiệt hại
nhân mạng và vật chất trong cuộc ‘tổng tấn
công’ của Cộng sản Hà Nội, từ những
vụ giật ḿn, phóng hỏa tiễn, đặt bom,
bắn phá vào các tỉnh, thị xă đến việc
chiếm 2 khu vực ở Sài G̣n một đêm và 24 ngày
tại Huế th́ Cộng sản đă giết hại
14.300 người, gây thương tích cho 24.000 người
và 627.000 người phải chịu cảnh màn trời
chiếu đất.
Tại Huế, CS lùng bắt
thành phần quân-cán-chính, tập trung dân để tổ
chức đấu tố, bắn giết, chôn sống tại
chỗ một số và dẫn những người c̣n
lại theo làm tù dân - tôi nói tù dân, v́ tù là những
người dân vô tội - trước rút lui tháo chạy
trước sức tấn công mănh liệt của QLVNCH và
Đồng Minh.
Nếu
tính nạn nhân tại Huế, ngoài số quân nhân, cảnh
sát, nhân viên cán bộ hành chánh về nghỉ Tết cũng
như những người sống tại địa
phương làm việc cho chính quyền Sài G̣n bị
Cộng sản bắn ngay tại chỗ là 1.892
người. Ngoài ra người ta c̣n t́m được
2326 tử thi thường dân trong 22 hố chôn tập
thể tại những địa điểm như
Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Băi Dâu, Cồn Hến,
Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía
đông Huế, Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh,
Cầu An Ninh, Cửa Đông Ba, Trường An, Ninh Hạ,
Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chùa Từ Quang, Chùa Từ
Đàm, Lăng Gia Long, Đồng Di, Vịnh Thái, Phú
Lương, Phú Xuân, Thượng Ḥa, Thủy Thanh, Vĩnh
Hưng và Khe Đá Mài. Mỗi hố chôn tập thể từ
5, 7 người đến trên 400 nạn nhân như ở
Khe Đá Mài. Những nạn nhân nầy bị thảm sát
một cách dă man như : Cột chùm nạn nhân lại
với nhau và đốt cháy bằng xăng, bắt ngồi
trên ḿn rồi cho nổ tan xác, chặt đầu, bắn
vào ót, đập chết bằng bá súng, đóng cọc
từ dưới bàn tọa lên đến cổ, trói tay
chân thành từng chùm rồi xô xuống hố chôn sống.
Nạn nhân là thường dân vô tội tuổi từ 15
trở lên, gồm có sinh viên học sinh, 6 linh mục là các
cha Bửu Đồng, Hoàng Ngọc Bang, Lê Văn Hộ, cha
Guy và cha Urbain (ḍng Thiên An), và cha Cressonnier (Hội Thừa sai
Paris), 5 thầy ḍng gồm 3 sư huynh ḍng Thánh Tâm là thầy
Hec-Man, thầy Mai Thịnh và thầy Bá Long, 2 sư huynh ḍng
Lasan là thầy Agribert và thầy Sylvestre. Hai thầy ḍng Lasan
bị bắt và bị chôn sống chung một hố
với linh mục Bửu Đồng tại Sư Lỗ,
quận Phú Thứ. Ngoài ra Cộng sản c̣n giết các giáo
sư đại học người nước ngoài trong
lúc họ đang dạy ở đại học Y khoa
Huế và thân nhân họ hàng của những người
phục vụ dưới chế độ VNCH.
Người ta ước lượng tại thành phố
Huế có gần 5.000 người bị Cộng sản
giết trong ṿng mấy tuần lễ.
Những người lớn
tuổi c̣n sống tại Huế là những nhân chứng
sống. Trong đó có hai thanh niên nguyên là học sinh trung
học, nay đă 56 tuổi, trả lời phỏng vấn
của các nhà báo ngoại quốc. Người thứ
nhất tên Tuấn cùng với những học sinh khác
đă bị CSBV bắt đào lỗ chôn sống 5
người tại Gia Hội ngay trong ngày đầu tiên
khi CS vừa chiếm Huế. Học sinh thứ hai, xin
giấu tên, ở Phủ Cam bị bắt đi theo đoàn
tù dân đưa chôn sống ở Khe Đá Mài. Cả hai
học sinh nầy nhờ một phép nhiệm mầu nào
đó họ đă thoát được và sống sót
đến ngày hôm nay.
Thiệt
hại về phía VNCH và Đồng Minh :
Theo
thống kê, VCH có 4954 binh sĩ tử trận, 15.097 bị
thương trên toàn quốc. Riêng tại Huế, QLVNCH và
Đồng Minh có 384 binh sĩ VNCH chết và 1800 bị
thương trong đó phía Mỹ có 147 chết và 857 bị
thương.
Thiệt
hại của quân Cộng sản :
Các
đây 10 năm, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30
ăn mừng chiến thắng Mậu Thân năm vào năm
1998, báo chí Cộng sản đă xác nhận có trên 100.000 lính
Bộ đội CS chết hoặc mất tích trong
cuộc ‘tổng nổi dậy’. Ngoài ra, qua chiến
dịch Phượng Hoàng, QLVNCH đă bắt làm tù binh hay
chính bộ đội ra hồi chánh sau biến cố
Mậu Thân là 9461 người. V́ mưu đồ xâm
lược, Hà Nội đă ‘nướng’ trên 100.000 thanh
niên Miền Bắc trong ṿng mấy ngày cận chiến
với QLVNCH và sau đó Hà Nội c̣n bị mất thêm gần
1000 quân lính vừa bị bắt vừa ra hồi chánh.
Nhiều đơn vị trong chính quy trong Nam phải xóa tên
và Hà Nội đă vội vă bắt trẻ con ‘miệng c̣n
hôi sữa’ đẩy vào chiến tường để
tiếp tục thi hành thủ đoạn đen tối
của già Hồ.
3. ÂM MƯU ĐEN TỐI VÀ
THẤT BẠI CHÍNH TRỊ CỦA CUỘC XÂM LĂNG
ĐIÊN CUỒNG :
Trong
các tài liệu và diễn văn của Cộng sản
tổ chức ăn mừng chiến thắng 40 năm,
chúng cho rằng biến cố Mậu thân là một cuộc
‘tổng nổi dậy’ của dân quân Miền Nam. Nhưng
thật ra Quân là những tên du kích mang danh Mặt Trận Giải
Phóng do lính Bắc Việt đội lốt. Và Dân là cán
bộ Cộng sản nằm vùng được tiếp
tay của những tên đồ tể cầm đầu
bọn đầu trâu mặt ngựa dẫn
đường chỉ điểm. Tại Huế Cộng
sản mở cửa các nhà tù để xử dụng phạm
nhân, những tên tù tội dân sự nầy được
giao nhiệm vụ lục soát, bắt bớ, tập trung
và thủ tiêu dân chúng. Dân Miền Nam vừa nghe Việt
Cộng tấn công đă bỏ nhà, bỏ ruộng
vườn, tài sản, bồng bế nhau liều mạng
đạp lên nhau để chạy trốn. H́nh ảnh rơ
ràng nhất là cảnh dân chúng Quảng trị chạy
trốn Cộng sản trên quốc lộ 1 và dân chúng trên
Cao Nguyên bỏ Pleiku tháo chạy khi hay tin Quân Đoàn II rút
về Quy Nhơn. Nếu nói dân chúng đồng loạt
tiến công th́ tại sao Cộng sản phải xử
dụng súng đạn để lùa dân tập trung tuyên
truyền tại những vùng chúng nó vừa tạm
chiếm ? Tại sao Cộng sản phải lục soát, vào
từng nhà ép buộc dân chúng tập trung, trói tay chân rồi
dẫn theo để cản đường truy kích
của QLVNCH cũng như để tránh bom, tránh
đạn pháo của Không quân và Pháo binh Việt-Mỹ ?
Tại sao dân chúng các vùng quê không đứng lên theo bộ
đội Cộng sản mà liều chết vượt
lằn đạn để chạy qua các vùng tự do
kiểm soát bởi QLVNCH ? Nói láo một cách trắng
trợn th́ chỉ bịp được những
người Miền Bắc hoặc đối với ai
chưa bao giờ nghe, biết và thấy những ǵ trong Miền
Nam Tự Do. Trong số nầy cũng phải kể
đến những người vừa lớn lên đă
bị Cộng sản bưng bít nhồi sọ, nhuộm
đỏ từ lúc vừa biết nói hoặc một
số (tôi xin nhấn mạnh, một số) trí thức
trốn quân dịch, chạy chọt ra nước ngoài du
học rồi ăn phải bă Cộng sản đến
ngày hôm nay vẫn chưa sáng mắt.
Trong tuyên truyền chạy
tội cho tập đoàn Cộng sản, ông Bùi Tín đă che
dù việc thảm sát năm Mậu Thân như sau :
Dưới áp lực phản công của VNCH, bộ
đội chính quy bắt buộc phải rút khỏi thành
phố Huế sau mấy tuần lễ chiếm đóng.
Để bảo toàn lực lượng, buộc ḷng
phải giết những người bị bắt theo
để trút bớt gánh nặng ! Qua câu nói nầy chúng ta
thấy được hai điểm quan trọng mà
Cộng sản đă xảo quyệt bóp méo sự thật
:
Thứ
nhất, Cộng sản đă thất bại hoàn toàn. Sau
trên 3 tuần chiếm được Huế chúng đă
bị QLVNCH và Đồng Minh đánh bại, ôm đầu
máu chạy vô bưng. Trên đường đào tẩu
chúng đă bắt dân theo để cản đường,
cản pháo và cản máy bay oanh kích của QLVNCH và
Đồng Minh, cuối cùng chúng đă giết tất
cả tù dân theo lệnh của Quân Ủy Trung Ương.
Thứ
hai, chứng minh một cách hùng hồn rằng không một
người dân nào nổi dậy ủng hộ hoặc
chạy theo Cộng sản trong biến cố Mậu Thân
tại Huế. Chỉ có mấy tên đồ tể như
HPNT-HPNP-NĐX với bọn đầu trâu mặt ngựa
thi hành lệnh lùng bắt, thủ tiêu và sát hại dân lành,
cuối cùng những tên nầy phải bám theo chân Cộng
sản chạy thoát thân. Như vậy không thể gọi
là Miền Nam đứng dậy ‘tổng khởi nghĩa’
theo tuyên truyền của cái ‘đỉnh cao trí tuệ’ mà
Cộng sản Việt Nam thường vỗ ngực huênh
hoang ! Viết đảo ngược sự việc
trắng trợn như vậy rồi bắt dân chúng
học tập th́ lối tuyên truyền nầy chỉ t́m
thấy độc nhất ở một chế độ
rừng rú, nơi được mệnh danh là ‘cái nôi
của nhân loại’ và ‘đỉnh cao trí tuệ của loài
người’ mà thôi !!!
Một
điều tôi cần đưa ra đây để
chứng minh vụ thảm sát thường dân vô tội là
do lệnh của đảng Cộng sản. Một
đảng viên huyện ủy Quận Phú Vang (tỉnh
Thừa Thiên) tên Hồ Ty, bí danh Sơn Lâm bị bắt và
trong cuộc thẩm vấn, tên nầy đă khai rằng,
việc thảm sát thủ tiêu tất cả dân lành vô
tội bị dẫn đi trong dịp nầy là do lệnh
của Quân ủy Trị-Thiên-Huế. C̣n một
điểm quan trọng nữa, trong thời gian ở tù
Cộng sản tại trại Kà Tum, một quản giáo
trong lúc nổi nóng đă phun ra trước mặt tôi và anh
em tù cải tạo một câu đáng ghi vào lịch sử
như sau : “Các anh may mắn được Cách mạng
khoan hồng tha tội chết, vào đây th́ phải
biết ăn năn, học tập tốt để
sớm trở về sum họp với gia đ́nh. Tôi nói cho
các anh biết, nếu năm Mậu Thân chúng tôi thắng
trận th́ ba triệu Ngụy-Quân Ngụy-Quyền và gia
đ́nh các anh đă bị giết theo lệnh của
Hồ Chủ Tịch !”
Ngoài
vấn đề quân sự nêu ở phần 2, Cộng
sản Hà Nội c̣n một thất bại nặng nề
về phương diện chính trị đối với nhân
dân Miền Nam và Quốc tế : Đó là Cộng sản
đă lộ hẳn bộ mặt gian xảo, bịp
bợm và âm mưu thôn tính Việt Nam Cộng Ḥa. Thật
vậy, Cộng sản đi đến đâu th́ gây ra tang
thương chết chóc đến đó. Sau biến
cố Mậu Thân, người dân nào đă chứng
kiến hành động giết người một cách thô
bạo và dă man th́ suốt đời của họ không bao
giờ dám nghe cũng như không muốn ai nhắc
đến hai tiếng ‘Cộng sản’ nữa !
Để
kết luận, qua ‘những ǵ Cộng sản đă làm’,
chúng ta có thái độ thế nào đối với tṛ
bịp gọi là ‘Ḥa Giải Hoà Hợp’ ? Tôi xin thưa
như thế nầy : Là Người Việt da vàng máu
đỏ, cùng một bọc trứng chui ra th́ giận
hờn nào cũng phải nguôi, căm thù nào cũng có
thể xóa bỏ phần nào sau 33 năm chấm dứt
chiến tranh. Nhưng Cộng sản trước mặt
chúng kêu gọi quên đi quá khứ, xích lại gần nhau
để xây dựng đất nước nhưng sau
lưng chúng đă làm ǵ ? Và đây là hành động của
Cộng sản Việt Nam đă làm, phải
được ghi vào lịch sử tội ác :
1.
Cầu cạnh Mă Lai và Nam Dương đục xóa các bia
tưởng niệm thuyền nhân bỏ ḿnh trên biển
cả, như vậy chứng tỏ Cộng sản Hà
Nội vẫn c̣n hận thù những người đi t́m
tự do mặc dù họ đă chết từ ba chục
năm nay. Các tượng bia tưởng niệm chỉ là
những vật vô tri giác, nằm trên những quốc gia xa
hàng ngàn số vẫn không thoát khỏi sự thù vặt
của tập đoàn Cộng sản, th́ đối với
những người c̣n sống như chúng ta, ngụy
quyền Cộng sản Hà Nội c̣n căm thù và t́m cách phá
hoại đến mức độ nào !
2. Đào xới, đập nát
các nghĩa trang quân đội, nơi yên nghỉ của
những người con thân yêu của Việt Nam Cộng
Ḥa Tự Do là một h́nh thức đập vào con tim
đang rướm máu của nhân dân Miền Nam, th́ thử
hỏi, c̣n ǵ để Cộng sản có thể nói
chuyện t́nh cảm với người Việt Tự do !
Chết là hết, nhưng đối với Cộng
sản những người đă nằm xuống vẫn
là kẻ thù, phải đào phải xới cho hả
giận là một hành động man ri mọi rợ c̣n
hơn cả loài súc vật.
3.
Đến giờ nầy Hà nội vẫn duy tŕ, tuyên
truyền và khai thác rút tỉa tiền bạc trên những
kỷ niệm đau buồn của QLVNCH và Đồng
Minh cũng như của dân chúng Miền Nam. Hăy dẹp ngay
những bảo tàng viện mà Cộng sản gọi là ‘Tội
ác Mỹ-Ngụy’ đang trưng bày, bán vé cho dân chúng và du
khách vào xem tại Hà Nội, Sài g̣n cũng như vài thành
phố khác. Đồng thời hăy bỏ hẳn những
chương tŕnh giáo dục nhồi sọ trẻ thơ
gây căm thù với chế độ cũ qua sách báo và
nhất là các tài liệu giáo khoa đang giảng dạy
tại các trường mẫu giáo lên đến
đại học. Một câu hỏi đặt ra cho
Cộng sản Việt Nam: có chấm dứt được
vấn đề vô liêm sỉ nầy không trước khi
mở miệng ra đề nghị ‘xóa bỏ quá khứ’ ?
4.
Tết Mậu Thân 1968 già Hồ và bè lũ trung ương
đảng Cộng sản tráo trở thỏa ước
hưu chiến để kéo quân vào cướp nước
giết hại hàng chục ngàn đồng bào vô tội
bằng những cuộc thảm sát dă man, mọi rợ.
Bây giờ đă 40 năm, Hà Nội vẫn ra lệnh cho
cả nước ăn mừng chiến thắng, khác ǵ
đảng Cộng sản cho tổ chức tiệc MÁU, khiêu
khích nhân dân Miền Nam và Cộng đồng người
Việt hải ngoại…. th́ đừng ḥng đề
cập đến chuyện ‘xóa bỏ quá khứ, bắt
tay ḥa giải ḥa hợp dân tộc’, mặc dù tất
cả chúng ta đều biết rằng đây chỉ là
một tṛ bịp cố hữu của CS!
Để
kết thúc bài thuyết tŕnh tôi xin gởi đến
tất cả mọi người một câu nói đă đi
vào lịch sử : “Đừng nghe những ǵ Cộng
sản nói mà hăy nh́n kỹ những ǵ Cộng sản làm”,
lời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Xin
cám ơn Quư Vị. Xin cám ơn Giáo sư Nguyễn Lư
Tưởng và Nhà văn Mường Giang đă bổ túc
một vài chi tiết trong bài thuyết tŕnh.
Tết Mậu
Thân 1968
Trọng
Đạt
LTS.- Đây là một chương
trích trong quyển sách biên khảo về chiến tranh
Việt Nam với tựa đề "Tấn Thảm
Kịch Việt Nam 1975" của tác giả Trọng
Đạt, mới phát hành.
Tác giả Trọng Đạt, năm
nay 66 tuổi, nhà văn, nhà khảo cứu lịch sử
Việt Nam. Ông đă xuất bản một số sách biên
khảo về chiến tranh Việt Nam. Quyển "Sài G̣n
Thất Thủ" của ông phát hành cách đây hai năm
đă bán khá chạy. Ông tốt nghiệp văn
chương ở Đại Học Văn Khoa Sài G̣n, sau đó
tốt nghiệp Cao Học Kinh Tế Tài Chánh, làm công
chức. Đi tù “cải tạo” CSVN và sang Hoa Kỳ theo
diện H.O. năm 1990. Nay ông đang sống ở Dallas,
Texas, và viết rất mạnh.
Trước hết chúng tôi xin
sơ lược về t́nh h́nh quân sự miền Nam
thập niên 60 trước khi xảy ra cuộc Tổng Công
Kích Tết Mậu Thân.
Sau khi thất bại trong
việc đề nghị hiệp thương năm 1957
với chính phủ VNCH, bị ông Ngô Đ́nh Diệm từ
chối, chính quyền CSBV quyết thôn tính miền Nam
bằng bạo lực, sống chết cũng phải
chiếm cho được cái vựa lúa miền Nam. Từ
những năm cuối thập niên 50, họ bắt
đầu chuyển quân xâm nhập, đưa những cán
binh tập kết trở về quê quán để thiết
lập hạ tầng cơ sở rồi phát động
"chiến tranh giải phóng".
Từ 1960, các hoạt
động của CS chỉ sử dụng những
đơn vị nhỏ du kích tấn công đánh đổ
mọi nỗ lực xây dựng Quốc gia của ta;
địch nhắm vào khủng bố, ám sát bắt cóc, phá
hoại... Lần đầu tiên cấp tiểu đoàn được
VC sử dụng tại trận Ấp Bắc trong năm
1961, được leo thang bằng nhiều tiểu
đoàn, chính phủ VNCH bèn thành lập thêm nhiều
đơn vị chiến đấu, tăng cường
các lực lượng địa phương để
bắt đầu công cuộc b́nh định và xây dựng
nông thôn. Trong khi đó người Mỹ gia tăng yểm
trợ về quân viện và gửi nhiều cố vấn
sang huấn luyện các đơn vị VNCH, dần
dần các kế hoạch của miền Nam đă làm
chậm và giảm các hoạt động của VC cho
đến cuối 1962. Từ những năm 1963, 1964 t́nh
h́nh chính trị xáo trộn v́ biểu t́nh, đảo chính...
khiến VC chớp thời cơ để phá hoại
kế hoạch an ninh của miền Nam, gia tăng xâm
nhập các ấp chiến lược, nhiều đơn
vị Địa phương quân bị thiệt hại.
Cuối năm 1964 các tiểu đoàn VC được
tập hợp lại thành trung đoàn, trung đoàn thành
sư đoàn.
Cuối năm 1964 trận B́nh
Giả do Công trường 9 (tương đương
một sư đoàn) tấn công vào làng Công giáo B́nh Giả
phía Đông Sài G̣n là nổi tiếng. Trong trận này VC phục
kích tiêu diệt một tiểu đoàn BĐQ, một tiểu
đoàn TQLC và gây thiệt hại cho lực lượng
thiết giáp tăng cường, đây là thử thách quân sự
khởi đầu cho miền Nam VN. T́nh h́nh chiến sự
ngày càng mở rộng leo thang, cuộc chiến tranh Đông
Dương đă được quốc tế hóa từ
1950 khi Trung Cộng bắt đầu viện trợ vũ
khí ồ ạt cho Việt Minh. Tháng 10 năm ấy
người Mỹ vội nhảy vào ṿng chiến, họ
viện trợ cho Pháp 300 triệu đô la quân viện. Nay
cuộc chiến lại càng được quốc tế
hóa hơn nữa. Nga Xô, Trung Cộng mặc dù chia rẽ
nhưng vẫn hiệp lực yểm trợ vũ khí, kinh
tế tối đa cho BV và xúi giục BV tiếp tục
cuộc chiến chống Mỹ để làm suy yếu
đế quốc, BV đă trở thành quân tốt lợi
hại cho CS quốc tế.
Đầu năm 1965, quân
đội chính qui CSBV bắt đầu hoạt
động tại miền Nam, trung đoàn đầu tiên
là 95 đă vào sát Kontum từ tháng 12-1965, họ dự
định cắt VNCH làm hai phần theo quốc lộ 19.
Giữa năm 1965 miền Nam bị thiệt hại nhiều,
trung b́nh trong một tuần mất một tiểu đoàn
và mất một quận. T́nh h́nh nguy ngập đến
mức báo động, người Mỹ phải
đổ quân đến cứu nguy VNCH đang có nguy cơ
sụp đổ, sau đó từ tháng 8 các đơn
vị Mỹ đi t́m và diệt địch. Quân
đội VNCH lại bị tổn thất nặng
cuối năm 1965 tại trận Đồng Xoài khi Công
Trường 9 đánh tan nát Trung Đoàn 7 thuộc Sư Đoàn 5
tại vùng đồn điền Michelin phía Bắc Sài G̣n.
Nhờ can thiệp của HK,
VNCH đă lấy được thăng bằng, những
năm 1965-1967 nhiều đơn vị chính qui BV
được đưa vào Nam, họ đụng
độ nhiều trận lớn với Mỹ và bị
thương vong rất nhiều v́ hỏa lực Mỹ
mạnh chính xác, Cộng quân bị kiệt lực, bổ
sung không kịp. Hỏa lực Mỹ quá mạnh nên CSBV
không dám đánh trực diện; không quân, pháo binh Mỹ
bắn ồ ạt gây tàn phá mạnh; các nơi xảy ra
đụng độ thường là miền duyên hải,
cao nguyên, giới tuyến và vùng biên giới Việt, Miên,
Lào... Trong khoảng thời gian này Mỹ cùng Đồng minh và
VNCH gia tăng hành quân tấn công phá hủy các mật khu CS
như chiến khu C, D phía bắc Sài G̣n, tại Pleiku, Kontum,
bắc Quảng Trị tạo thuận lợi cho
chương tŕnh b́nh định phát triển. CSBV mất
thế chủ động bị đẩy lui khỏi các
vùng đông dân cư và các vùng tranh chấp, nên suy yếu rơ
rệt. Năm 1967 CSBV tiếp tục chủ động
tại khu phi quân sự và các vùng hẻo lánh, sâu về
hướng Nam không c̣n hoạt động nào đáng
kể nữa.
BV lên kế hoạch tổ
chức những cuộc tấn công qui mô để ḥng xoay
ngược thế cờ. Cuối năm 1967 tin t́nh báo ghi
nhận CSBV xâm nhập nhiều người và tiếp
liệu qua đường ṃn Hồ Chí Minh và theo các
trục giao liên. Giới chức quân sự VNCH không coi
đó là một sự báo động. Sài G̣n và các tỉnh
miền Nam tưng bừng đón Xuân, các vũ
trường đầy ắp những cặp trai thanh gái
lịch lả lướt bên điệu nhạc du
dương. Năm 1968 dân Sài G̣n ăn Tết lớn hơn
mọi năm, nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh, đỏ
đen cờ bạc khắp phố phường... Trong khi
ấy Tướng Wesmoreland họp báo ở Mỹ nói t́nh
h́nh Việt Nam đă khả quan, Hoa Kỳ có thể rút quân
từ 1969.
Diễn tiến quân sự
trong phần này chúng tôi dựa theo cuốn "Mậu Thân
68 Thắng Hay Bại" của Chánh Đạo và có tham
khảo thêm trong các sách của Nguyễn Đức Phương,
của Tướng Hoàng Văn Lạc...
Giao Thừa Mậu Thân tối
29-1, các gia đ́nh nhang đèn, hoa quả cúng giao thừa;
đời sống sung túc khiến cho ngày Xuân 1968 tưng
bừng náo nhiệt hơn những năm trước.
Bất ngờ đặc công VC tấn công Bộ Tổng
Tham Mưu, Dinh Độc Lập, Bộ Tư Lệnh Hải
Quân,phi trường Tân Sơn Nhất... VC tấn công
đồng loạt 28 tỉnh và thị trấn. Hà Nội
ra lệnh hoăn cuộc tấn công 24 giờ đồng
hồ, các tỉnh miền Trung như Nha Trang, B́nh Định,
Pleiku... khai hỏa trước nên miền Nam kịp
thời cảnh giác. Hà Nội đă cho điều
động khoảng 100 tiểu đoàn vào cuộc Tổng
Công Kích đại qui mô này. Lực lượng
được chia ra như sau: 35 tiểu đoàn và 18
đại đội tại Vùng 1, 28 tiểu đoàn
tại Vùng 2, 15 tiểu đoàn tại Vùng 3, 19 tiểu đoàn
tại Vùng 4, tổng cộng 84 ngàn người, hầu
hết thuộc Mặt Trận Giải Phóng. Ngày 21-1-1968 Hà
Nội chọn Giao Thừa là giờ tấn công.
Bắc Việt vờ pháo kích
Khe Sanh dữ dội để đánh lạc hướng
VNCH và đồng minh. Thời điểm này, mặc dù VC
không có vũ khí nặng như xe tăng đại bác, chúng
chỉ có vũ khí cá nhân nhưng đă được CS
quốc tế trang bị súng ống tối tân như AK,
B-40, B-41. Bắc Việt chuẩn bị cho cuộc Tổng
Công Kích y như quân Nhật đảo chính Pháp năm 1945.
Mặc dù họ bảo mật rất kỹ nhưng
một cuộc hành quân lớn như vậy cũng không
thể giữ bí mật hoàn toàn được. Năm 1967
Bắc Việt vờ ḥa hoăn với Mỹ để
chuẩn bị cho cuộc tổng công kích, năm 1967 quân
đội BV bị thất bại nhiều, tử vong lên
cao. Trong cuộc hành quân tại Dakto người Mỹ
đă bắt được một số tài liệu cho biết
Cộng quân sẽ đánh lớn nhưng chưa biết
vào thời điểm nào. Trước Tết Tướng
Wesmoreland đă t́m gặp Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu để báo cáo âm mưu của địch và yêu
cầu chỉ hưu chiến 24 giờ nhưng ông
Thiệu không tin và vẫn cho hưu chiến 36 giờ.
Năm ấy liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử 35%
số phiếu ngày 3-9-1967, ông Thiệu muốn nhân dân
phải ăn Tết cho thật to, cảnh sát làm ngơ cho
dân chúng đốt pháo thả giàn đêm Giao Thừa.
Thiếu tá Cảnh Sát Liên
Thành, cựu Phó ty cảnh sát Thừa thiên 1968, cho biết
trước Tết ta đă nhận được
nhiều dấu hiệu cho thấy VC sẽ tấn công,
tiểu đoàn đặc công K1 của VC đă đột
nhập Huế, ông bèn tŕnh lên tỉnh trưởng rồi
cả ông và tỉnh trưởng cùng đến Bộ
Tư Lệnh Sư Đoàn 1 tŕnh bày với Tướng
Trưởng nhưng tin tức không được chú ư.
Tại Quân khu 1, sáng Mồng 1 Tết (30-1) Đại Tá
Nguyễn Duy Hinh, xử lư thường vụ tham mưu
trưởng Quân Đoàn 1 đă nhấc điện thoại
báo cáo Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm, Tư lệnh Vùng 1 khi VC
pháo kích gần tư thất ông nhưng Tướng Lăm
không tin, cắt ngang cuộc điện đàm. Ngoài ra Trung
Tướng Stone, Tư lệnh Sư đoàn 4 BB Mỹ
ở Cao Nguyên, thu được tài liệu của VC nói
về kế hoạch tấn công Pleiku, ông vội thông báo
cho Trung Tướng Vĩnh Lộc, Tư lệnh Vùng 2
nhưng ông này không tin và bỏ về Sài G̣n ăn Tết.
Trận Tổng Công Kích do Vơ
Nguyên Giáp chỉ huy từ Hà Nội. Giao Thừa 29-1
rạng ngày 30-1-1968 Việt Cộng đồng loạt pháo
kích tấn công 6 tỉnh và thị xă Vùng 1 và 2. Tại Vùng 1,
VC pháo kích phi trường Đà Nẵng, đặc công
đột nhập Bộ Tư Lệnh QĐ1 và thị xă
Hội An. Tại Vùng 2, thị xă Nha Trang bị tấn công
nửa đêm Mồng 1 Tết ( 30-1), Ban Mê Thuột bị
đánh lúc 1 giờ 30, Tân Cảnh lúc 2 giờ, Kontum lúc 2
giờ, Pleiku, Tuy Ḥa lúc 4 giờ 30, Qui Nhơn lúc 4 giờ
10. VC pháo kích các căn cứ Mỹ tại Đà Nẵng, Pleiku
phá hủy 20 máy bay, tại Bồng Sơn nhiều máy bay
thuộc Sư đoàn 1 không kỵ Mỹ bị hư
hại.
Các thị trấn lớn và
Sài G̣n vẫn chưa thức tỉnh, đài Sài G̣n lúc 9g30
sáng 30-1-1968 cho phát thanh bản tin hủy bỏ hưu
chiến v́ CS bội ước tại Vùng 1 và 2. Địch
bảo mật kỹ lưỡng nên khi cuộc Tổng
Công Kích nổ ra, các viên chức Việt Mỹ đă
bối rối và lúng túng. Khi VC tấn công các tỉnh cao
nguyên, duyên hải, Quân khu 1 đă ban hành lệnh hủy
bỏ hưu chiến từ sáng 1 Tết nhưng vẫn
không ngăn được bộ đội CS tiến vào
Huế.
Vùng 1 và Vùng 2 là chiến
trường gay go nhất miền Nam v́ tiếp giáp với
vùng hỏa tuyến, nơi diễn ra nhiều trận
đánh đẫm máu giữa BV và đồng minh từ
1965. Tại Vùng 2, VNCH có 2 sư đoàn, 1 sư đoàn
Mỹ (SĐ4), 2 sư đoàn Đại Hàn trách nhiệm từ
B́nh Định tới Phan Rang, Tư Lệnh QĐ-2 là Trung
Tướng Vĩnh Lộc. Trong trận Tổng Công Kích
1968 này, Vùng 2 bị tấn công sớm nhất, đúng Giao
Thừa. Theo Tướng Hoàng Lạc, Hà Nội đổi
giờ tấn công trễ hơn 24 giờ nhưng tại
Vùng 2, VC chưa được nghe lệnh, đă khai
hỏa sớm nên các tỉnh miền Nam kịp thời
ứng chiến.
Trong năm tỉnh duyên
hải B́nh Định, Phú Yên, Khánh Ḥa, Ninh Thuận, B́nh
Thuận... Tiểu khu Khánh Ḥa bị tấn công
trước nhất trong dịp Mậu Thân sau Giao Thừa,
Qui Nhơn tờ mờ sáng Mồng 1 Tết, Tuy Ḥa, Phan
Thiết bị tấn công đêm 1 rạng Mồng 2
Tết, Phan Rang yên tĩnh. Các cuộc hành quân tại Vùng 2
của Mỹ và VNCH đă bắt được các tài
liệu về kế hoạch tấn công Ban Mê Thuộc, Qui
Nhơn. Lực lượng an ninh bắt được 11
cán bộ VC tại Qui Nhơn cuối tháng 1-1968 đang
hội họp, tù binh VC khai họ sẽ tấn công Qui
Nhơn và các thành phố khác trong dịp Tết, nhóm này
cũng có một cuộn băng ghi âm lời kêu gọi
quần chúng nổi dậy. Cuộn băng được
đưa về Bộ TTM ngày 29-1 (30 Tết), từ đó
lệnh pḥng thủ được ban ra nhưng cũng
không được quan tâm mấy.
Dân số Nha Trang nếu
kể cả ngoại ô là 200 ngàn người, tại
đây có nhiều cơ sở quân sự quan trọng, Nha
Trang cũng là một thành phố du lịch. Trước
Tết, tiểu khu Khánh Ḥa có tin CS chuẩn bị tấn
công thị xă bằng một trung đoàn và 4 đại
đội đặc công, Sư đoàn Đại Hàn bèn
mở cuộc truy lùng nhưng không có kết quả. Kế
hoạch VC chia làm 3 toán: Toán 1 có 800 người, đột
nhập ṿng đai thị xă tấn công phía Tây thành phố;
toán 2 có 130 người tấn công tiểu khu, ṭa tỉnh;
toán 3 có 111 người tấn công các trại truyền tin,
ngăn chận viện binh từ B́nh Long.
Khu ủy dự định
tổ chức các cuộc biểu t́nh kéo về Ty Thông Tin
để hỗ trợ sự thành lập chính phủ Liên
Hiệp và đ̣i Mỹ rút quân. Đài phát thanh chỉ có một
trung đội 20 người bảo vệ bị VC
tấn công nhưng không bị thiệt hại, địch
bị đẩy lui trong đêm. Quân đội VNCH tấn
công bộ chỉ huy tiền phương Cộng quân
tại đồi trại Thủy khiến địch
phải rút lui. Hơn một đại đội VC và
đặc công tấn công tiểu đoàn Truyền tin 651 bị
đẩy lui. Tiểu khu, ṭa hành chánh bị hai đại
đội đặc công 56 tên tiến đánh nhưng
thất bại, địch để lại gần 40 xác
chết.
Một tiểu đội
đặc công đột nhập Bộ Chỉ Huy 5
Tiếp Vận giết 11 người của ta, 2
đại đội Biệt Cách Dù được đưa
tới giải tỏa, phía VNCH bị thương khá
nhiều. Sáng ngày Mồng Một Tết các đơn
vị ta nỗ lực giải tỏa đồi trại
Thủy, Ṭa Hành Chánh, Tiểu Khu và Bộ Chỉ Huy 5
Tiếp Vận. Từ 4 giờ chiều Mồng 1 ta đă
làm chủ t́nh h́nh thị xă. Đêm 2 Tết VC tấn công
trở lại, VNCH chết 46 người, địch
khoảng 100 người, đêm Mồng 2 địch
chiếm đồi trại Thủy, một đại
đội biệt kích tới giải tỏa, tổn
thất hai bên đều cao.
Cộng quân không biết
đường đi lạc lung tung trong thị xă bị
bắt gần hết, dân chúng giúp chính quyền bắt
giặc, trên ngực các cán binh đều mang khẩu
hiệu quyết chiến. Bộ đội CS toàn là lính
trẻ từ 16 tới 20, quần áo không thống nhất,
tổng cộng 77 tên bị bắt, ngoài ra ta bắt thêm 53
tên nằm vùng nhờ tù binh khai báo. Tổng kết VNCH
chết gần 90 người, CS chết 377 tên, 80 bị
bắt, 600 gia đ́nh tại đây bị tan nát nhà cửa
phải vào trại tiếp cư.
Tại Qui Nhơn lực
lượng địch có 200 người gồm hai
tiểu đoàn đặc công và bộ binh. Từ 4 giờ
sáng Mồng Một Tết địch tràn vào khu 22 ANQĐ
để giải thoát các tù binh CS, mũi thứ hai đánh
nhà ga, tràn vào khu đông dân để lùa họ đi
biểu t́nh. Cộng quân chiếm đài phát thanh. Các
đơn vị VNCH và Đại Hàn tới giải tỏa
vùng lân cận đài phát thanh, VC chết 50 tên. Sáng 2 Tết
ta phản công đài phát thanh bắt sống 12 tên, giết
24 tên tại nhà ga. Chiều 24 Tết, một tiểu
đoàn BB đến giải tỏa nhà ga. Lực
lượng VNCH và Đại Hàn tiếp tục hành quân lục
soát đến ngày Mồng 5 Tết giết 110 VC, bắt
sống 175 tên.
Tại cao nguyên vùng 2 có
độ cao trung b́nh 1,000m, toàn cao nguyên có 4 thị trấn
lớn là Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuộc, Đà Lạt. Trước
năm 1968 t́nh h́nh ở đây lắng dịu. CS đưa
3,500 quân vào mặt trận Ban Mê Thuộc làm 3 mũi dùi:
họ tấn công ṭa hành chánh và tiểu khu; tấn công khu
quân sự phía Tây BMT; Địa Phương Quân và du kích
chiếm các khu đông dân cư. Sư đoàn 23 BB hành quân
thám sát chạm súng VC nhưng địch đă vào ṿng
đai thành phố tấn công đúng kế hoạch.
Mặc dù đánh bất
ngờ, VC cũng không chiếm được một
căn cứ quân sự nào, VNCH mất 4 thiết giáp. Sáng
Mồng Một Tết ta đă chiếm được
những đường phố chính trong khi nhiều
đơn vị được đưa về giải
vây Ban Mê Thuộc. Trong ngày Mồng Một có 100 cán binh
bị bắn hạ, ngày thứ hai ta tiếp tục
giải tỏa, giết 60 VC, bắt sống 10 tên khác cho
tới Mồng 6 Tết coi như cuộc tấn công
bị hoàn toàn bẻ gẫy. Tới đêm 3-1 Trung đoàn
33 Cộng quân lại tấn công vào tỉnh lỵ nhưng
đă bị đẩy lui. Tổng cộng có tới 924 VC
bị tử thương và 143 tên bị bắt, phía VNCH có
148 người thiệt mạng, hơn 300 bị
thương, 176 thường dân chết oan, 4,000 nhà bị
đốt cháy, hư hại, trên 18 ngàn người
phải vào các trại tạm cư. Phía VNCH thắng
lớn tại Ban Mê Thuộc do đề cao cảnh giác
nhờ Mỹ cho biết trước địch sắp
đánh lớn.
KonTum là thị trấn
địa đầu của vùng Cao Nguyên dân cư 100 ngàn
người. Đầu năm 1968 có nhiều dấu hiệu
cho thấy VC chuẩn bị tấn công Kontum. Lực
lượng CS tại đây gồm 2 trung đoàn, VNCH có
trung đoàn 42, 2 đại đội trinh sát, một
tiểu đoàn pháo 105 ly, một chi đội chiến xa
M-41, 25 đại đội Địa Phương Quân
gồm 2600 người, gần 3000 nghĩa quân, lực
lượng Mỹ tại Tân Cảnh có Lữ đoàn Dù
173.
Cộng quân chia làm 2 cánh: cánh
thứ nhất gồm 2 tiểu đoàn chủ lực và
tiểu đoàn đặc công để đột
nhập tỉnh lỵ, chiếm đóng các trụ sở.
Cánh thứ hai là trung đoàn 24 có nhiệm vụ đánh
chận quân tiếp viện của VNCH. Giờ Giao Thừa
địch tấn công ṭa hành chánh, ấp tân sinh phía Đông
thị xă, đột nhập khu cư xá sĩ quan. Khi
trời rạng sáng ta phản công giải tỏa khu
vực ṭa hành chánh, chiều Mồng Một Tết VC
mở cuộc tấn công lần thứ hai nhưng phía VNCH
vẫn giữ vững pḥng tuyến. Khi trời sáng
địch bị thiệt hại rút lui, khuya Mồng Hai
Tết họ tấn công đợt ba vào Ṭa Hành Chánh,
trụ sở MACV... pháo binh, trực thăng của VNCH và
Mỹ hoạt động không ngừng, VC rút lui lúc sáng
để lại trên 100 xác chết sau đó phía ta giành
quyền chủ động.
Tại Tân Cảnh phía Bắc
Kontum, địch tấn công đêm Giao Thừa, VNCH
giải tỏa ngày Mồng 1, toàn bộ trận Kontum phía ta
chết 54 người, bị thương 135 người,
Việt Cộng chết khoảng 500, 38 tên bị bắt,
chỉ có 12 thường dân tử thương, nhiều
nhà cửa bị tàn phá.
Tại Pleiku Cộng quân
tấn công đêm Giao Thừa, Phan Thiết Tuy Ḥa đêm 1
rạng Mồng 2, Đà Lạt nửa đêm Mồng 3. Pleiku
là thủ phủ của Vùng 2, dân số 50 ngàn người
đa số là đồng bào Thượng, đây là
một vùng đất đỏ mầu mỡ. Một
tiểu đoàn địa phương và một trung
đoàn CS tấn công Pleiku sáng Mồng Một Tết, v́
tấn công ban ngày trên những sườn đồi
trọc địch đă trở thành mục tiêu ngon lành cho
thiết giáp của VNCH, cuộc tấn công chấm dứt
trong ngày, ta chết 7, bị thương 22 người, 103
cán binh CS bị giết, sáng Mồng 4 Tết khoảng 2
trung đoàn CS mở cuộc tấn công đợt hai
bị máy bay bắn phá dữ dội, trên 600 VC bỏ xác
tại trận với gần 200 vũ khí các loại, 180
tên bị bắt làm tù binh.
Tại Phan Thiết, dân số
độ 50 ngàn người, Cộng quân tấn công làm 4
đợt: Đợt 1 từ 1 tới 7 Tết ba đại
đội tấn công đồn Trinh Tường, tiểu
khu tới giải vây, địch tản ra gần đó
nhưng vẫn bám trụ, đêm 3 Tết VC
được tăng cường thêm hơn một
tiểu đoàn, phía VNCH cũng đưa một tiểu
đoàn từ Ninh Thuận tới giải vây càn quét
địch ra khỏi khu đông dân, quân đội Mỹ
cũng tham gia cuộc tảo thanh, ngày 7 Tết Phan
Thiết đă b́nh thường trở lại.
12 ngày sau, tối 17-2, hai
tiểu đoàn VC lại tấn công tiểu khu, Ty cảnh
sát, nhà lao và dẫn đi hơn 700 phạm nhân. Suốt hai
ngày 18 và 19 các lực lượng Việt-Mỹ tiếp
tục bắn phá địch dữ dội, hai ngày sau
tương đối tạm yên. Ngày 12-3 địch
tấn công lần chót vào Phan Thiết nhưng thất bại,
toàn bộ trận đánh phía VNCH và Mỹ chết 170
người, bị thương 650 người, thiệt
hại vật chất gồm vũ khí, nhiên liệu,
đạn dược bị nổ... 20% nhà cửa bị
hư hại. Cộng quân thiệt hại nặng, bị
bắn hạ 800 tên, mất 360 súng ống các loại.
Tại Tuy Ḥa cuộc tấn
công bị bẻ gẫy, VC chết 11 tên.
Đà Lạt trong dịp này có
lệnh xả trại 50% nên quân số chỉ c̣n hơn
1,000 người. Đêm Mồng 3 khoảng 200 VC tấn công Đà
Lạt, mấy ngày sau địch tăng cường thêm
một tiểu đoàn, toàn bộ lực lượng
khoảng 1,500 tên. Cho tới Mồng 6 Tết VNCH mới
tăng cường tiểu đoàn Biệt Động Quân
để giải tỏa thị xă, ngày 9-2 VC chiếm
được một ngôi chùa, mấy ngày sau ta đưa
thêm BĐQ vào trận địa mới giải tỏa xong.
Thiệt hại vật chất tại thành phố
khoảng gần 30%.
Vùng 1 kéo dài từ sông Bến
Hải cho tới Quảng Ngăi do Trung Tướng Hoàng Xuân
Lăm làm Tư Lệnh gồm 2 sư đoàn 1 và 2, các lực
lượng Đồng minh tại đây gồm Sư đoàn
3 TQLC Mỹ cùng nhiều xe tăng đại bác. Tháng 1-1968,
Tướng Wesmoreland tăng viện 1 Sư đoàn không
kỵ Mỹ, 1 lữ đoàn TQLC Mỹ, 1 lữ đoàn
TQLC Đại Hàn.
Đà Nẵng nhờ vị trí
thiên nhiên đă trở thành vị trí chiến lược
hàng đầu của Vùng 1, hầu hết các cơ sở
đầu năo của Vùng giới tuyến đặt
tại đây như Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, Không Quân,
Hải Quân Vùng 1. Dân số khoảng 400 ngàn, Đà Nẵng là
thành phố lớn thứ nh́ tại miền Nam sau Sài G̣n,
thành phố có hai phi trường là Đà Nẵng và Non
Nước. VC đă cho một trung đoàn tấn công
tối 29-1. Bộ Tổng Tham Mưu đă điện
thoại cho Quân Đoàn cảnh giác pḥng thủ địch, 3
giờ sáng Mồng 1 Tết, địch tấn công Hội
An, đột nhập hàng rào Bộ TL Quân Đoàn nhưng
bị đẩy lui, sáng Mồng Một quân đội VNCH
tảo thanh, 5 tên bị bắt, âm mưu địch bị
bẻ gẫy. Đêm 01 Tết Cộng quân tấn công đèo
Hải Vân, một tiểu đoàn Dù tăng cường
từ Huế tảo thanh ṿng đai thị xă giết 150
VC, địch pháo kích vào phi trường Đà Nẵng Hội
An dữ dội bằng hỏa tiễn 122 ly.
Huế được coi
như trọng điểm thứ 2 sau Sài G̣n, lệnh
giới nghiêm được ban hành sáng Mồng Một
Tết nhưng VC vẫn đột nhập được
vào cố đô đêm ấy. Trận đánh kéo dài 25 ngày
đêm từ tờ mờ sáng 31-1 cho tới 25-2 tức 27 tháng
Giêng Mậu Thân. Cả hai bên đều tổn thất
nặng, thường dân bị thiệt hại nhiều
nhất: 3 quận nội thành gần 1,000 người
chết, 784 người bị thương, 4,450 căn nhà
bị phá hủy 100%, 3,300 căn bị hư hại trên
50%, gần 5,000 nhà hư hại dưới 50%.
Tại Vùng Một rừng núi
chiếm tới 3/4, tổng số quân VC dự trù
để tấn công Huế là 4,200 người. Mặt
trận do Lê Minh chỉ huy. Theo Phạm Huấn, mới
đầu địch tấn công Huế bằng 2 trung
đoàn và đặc công, sau tăng cường 2 trung
đoàn nữa khiến quân số lên gần 10,000
người, tài liệu khác nói lực lượng
địch vào khoảng 5,000 người. Phía VNCH kể
cả chính qui, Địa Phương Quân, cảnh sát, nghĩa
quân, cán bộ xây dựng nông thôn... khoảng 25 ngàn
người. CS nghi binh pháo kích Khe Sanh đánh lạc
hướng VNCH và Mỹ để chuẩn bị tổng
tấn công. Trước Tết vài ngày an ninh lỏng
lẻo, nhiều thanh niên lạ mặt xanh xao đi dép râu
vào thành phố mà không thấy cảnh sát hỏi han ǵ. Lê
Minh mở thêm mặt trận Phú Lộc và Quảng Trị
để phân tán lực lượng VNCH.
Ngày 29-12 Âm Lịch (28-1)
Tướng Hoàng Xuân Lăm bay ra Quảng Trị thị sát
pḥng thủ, lực lượng cộng sản là một
trung đoàn từ Lào qua. Bộ Chỉ Huy tiểu đoàn 9
Dù bị tấn công, một số đặc công lọt
vào thị xă, trận đánh kéo dài suốt ngày 2 Tết
(31-1), VC bị tử thương hằng trăm tên,
tiểu đoàn 9 Dù phải rút lui. Chiều Mồng 2
Tết liên quân Việt Mỹ phản công, trận đánh
kéo dài suốt đêm Mồng 2 Tết, sáng Mồng 3 CS huy
động dân chúng vào thị xă biểu t́nh nhưng bị
giải tán, cuộc tấn công bị bẻ gẫy,
địch phải rút lui.
Một trung đoàn Cộng
quân tấn công Phú Lộc đêm Mồng 1 Tết chiếm
một số làng, bốn ngày sau một đơn vị
TQLC Mỹ từ B́nh Định ra đẩy lui cuộc
tấn công của địch.
Tại mặt trận
Huế, VC thành công hơn các tỉnh khác. Địch
chiếm được ưu thế về quân sự trong
4, 5 ngày đầu nhưng từ ngày mồng 8 trở,
đi cường độ trận chiến giảm,
Cộng quân di tản thương binh và tù binh đi,
lấy chiến lợi phẩm mang theo.
Mặt trận Bắc
Huế: Đặc công phá cổng cửa chính Tây cho một
tiểu đoàn chính qui CS vào thành nội đêm Mồng
Một Tết. Tại khu vực An Ḥa phía Tây Nam, một
tiểu đoàn địch tấn công chiếm làng An Ḥa.
Tại đồn Mang cá quân đội VNCH phản ứng
mănh liệt, Chuẩn Tướng Trưởng đóng
ở Mang Cá, Mồng 2 Tết một tiểu đoàn Dù được
điều động từ Tứ Hạ về giải
tỏa. Thiết đoàn 7 được đưa tới
giải tỏa thành nội, trưa mồng 2 có thêm xe tăng
của Mỹ nên đă vào được thành phố.
Tại sân bay Tây Lộc, đặc công đột nhập
phi trường đốt kho xăng, kho đạn... giao
tranh suốt ngày Mồng 2, sáng hôm sau ta tái chiếm phi
trường. Khu Đại Nội bị chiếm, VC treo
cờ trên kỳ đài cho tới 24-2-1968. Khu Đông Nam,
một cánh quân VC chiếm khu Đông Nam và chợ Đông Ba. Ty Chiêu
Hồi, Ty Thông Tin, Ṭa Án... bị chiếm, cơ sở
bị phá hủy.
Mặt trận phía Nam (Hữu
ngạn) do Thân Trọng Một chỉ huy, lực
lượng gồm toàn bộ hai Trung đoàn BB và 4
đại đội đặc công. Mặt trận Tam Thai,
đặc công đột nhập vào căn cứ thiết
giáp ở Tam Thai, ngày Mồng 2 Tết lực lượng
phản kích VN tái chiếm, có hai phi cơ lên yểm trợ,
đặc công bị bắn chết gần hết trên núi.
Cộng quân xâm nhập thành
phố phía hữu ngạn Huế, lực lượng pḥng
thủ chống cự mănh liệt. Bốn ngày sau VC chiếm
đại đội Quân cụ, Ty Ngân Khố, Ṭa Đại
Biểu, Ṭa Hành Chánh, nhà tù... chúng thả 2,000 tù nhân ra gây
rối dữ dội. Phía VNCH chỉ c̣n giữ
được Tiểu khu, đài phát thanh, bản doanh MACV,
bến tầu hải quân.
Đồng thời VC cũng
mở Mặt Trận Chính Trị, họ thành lập các
Ủy Ban Cách Mạng Nhân Dân. Ngày 14-2-1968 đài Hà Nội
tuyên bố đă thành lập một chính quyền cách
mạng do Lê Văn Hảo làm chủ tịch, phó chủ
tịch Đào Thị Xuân Yến, Hoàng Phương Thảo.
CSBV nặn ra tổ chức Liên Minh các Lực Lượng
Dân Chủ và Ḥa B́nh..., chủ tịch là Lê Văn Hảo,
giáo sư Đại Học Huế và Sài G̣n, họ cũng
nặn ra Lực Lượng Nghĩa Binh lấy các quân nhân
VNCH bị kẹt lại Huế thành lập lực
lượng ly khai đả đảo Thiệu Kỳ,
nhưng dần dần họ bị hăm hại gần
hết.
Ngoài các toán tuyên truyền,
Cộng quân c̣n tổ chức những đơn vị an
ninh do Lê Tư, Bẩy Khiêm là hai cán bộ an ninh cấp khu
chỉ huy; hai tên này đặc trách việc thủ tiêu,
bắt bớ các viên chức, sĩ quan VNCH ở hai khu
tả và hữu ngạn. Tả Ngạn, Tống Hoàng Nguyên
phụ trách an ninh lùng bắt các sĩ quan và viên chức cao
cấp Huế và bảo vệ các nhân vật chính trị
như Lê Văn Hảo, Thích Đôn Hậu, Nguyễn Đóa... Khu
hữu ngạn Bẩy Khiêm cho săn bắt các viên chức
chính quyền, giết phó tỉnh trưởng Thừa
Thiên, bắt sống ông đại diện chính phủ, các
đảng viên Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân
đảng... Thường dân bị chết v́ bom
đạn và bị VC tàn sát rất nhiều.
QLVNCH đă bắt đầu
phản công từ Mồng 3 Tết. Tại Tả ngạn,
chiến đoàn Dù gồm 2 tiểu đoàn và chi đoàn
thiết giáp tăng cường tiến về Huế,
địch rút vào thành nội, Mồng 5 Tết Dù giải tỏa
phi trường Tây Lộc, tái chiếm cửa An Ḥa.
Trận chiến kéo dài 3, 4 ngày không tiến triển,
Cộng quân phá cầu Trường Tiền, ngày 9 Tết
địch tăng cường phản công ở khu
vực cửa Chánh Đông. Cả hai bên đều mệt
mỏi, VC bắt đầu hết đạn
dược, thương vong tại nội thành lên tới
300 người mà không di tản đi được. Ngày
Mồng 5 Tết Lê Minh họp các cấp chỉ huy CS
quyết định rút khỏi Huế, địch tấn
công đồn Mang Cá 3 giờ đồng hồ nhưng
thất bại. Minh xin Hà Nội tăng viện,
được tăng cường một trung đoàn
nhưng khi vào Huế bị Lữ đoàn 3 TQLC Mỹ
chận đánh tan nát.
Tại mặt trận Hữu
Ngạn, chiến đoàn Dù giải vây đồn Mang Cá,
thành nội 3-2, từ ngày Mồng 5 Tết quân đội
Mỹ cũng tiến vào tham chiến tại thành nội
Huế, tiểu đoàn TQLC Mỹ và thiết giáp đổ
bộ bến tầu hải quân, chiến xa Mỹ có
hỏa lực mạnh. Một tuần sau TQLC Mỹ đă
tiêu diệt được gần 1,000 VC, phía Mỹ
chỉ có 31 người chết. TQLC Mỹ cũng
được đưa vào hữu ngạn, t́nh h́nh dă
tạm yên.
Sau khi ổn định
mặt trận Hữu Ngạn, Việt Mỹ mở
cuộc phản công mới để thanh toán những
chốt cảm tử, lực lượng Dù chuyển
về Sài G̣n, TQLC ta hành quân cùng với Mỹ. Các đơn
vị Mỹ đổ bộ bến Bao Vinh, ngày rằm
bắt đầu nắng. Chiến dịch Sóng Thần
gồm 6 khu: A- Đông Bắc; B- Chính Đông gồm chợ Đông Ba;
C- Tây Bắc gồm phường Tây Lộc; Đ- Đông Đại
Nội; E- Kỳ Đài, Ngọ Môn; F- Tây Nam Thành Nội.
Các cuộc hành quân tiến
chậm v́ thời tiết xấu, máy bay không oanh tạc
được, ngày 19-2 hai tiểu đoàn VC tấn công
một tiểu đoàn TQLC của ta, từ Mang Cá ta bắn
2000 quả pháo binh để yểm trợ. Tại khu Đông
Đại Nội Mỹ và VC tranh nhau từng cao điểm,
trận đánh rất khốc liệt. Ngày 19-2 Lê Minh
họp các đảng viên và quyết định rút, chúng
bắt tù binh đem theo. Từ 22-2 các cấp chỉ huy CS
bắt đầu rời thành nội.
Quân Đoàn 1 cho lệnh tổng
phản công tái chiếm, hai tiểu đoàn BĐQ
được tăng cường, ngày 23-2 Mỹ chiếm
một phần thành ở phía Đông Nam.TQLC ta chiếm cửa
hữu, tiến đánh Nam Đài, Nhà Đồ. Bốn giờ sáng
hôm 22-2 một đại đội thuộc Sư đoàn
1 chiếm kỳ đài. Từ Mồng 8 Tết VC đă
chuyển tù nhân và thương binh, chiến lợi phẩm
ra khỏi Huế, ngày 22-2 các đơn vị chủ
lực địch bắt đầu rút kéo dài 5 ngày cho
đến 26-2 những cán binh cuối cùng rời Huế.
Số cán binh CS bị giết
tại Huế được ước lượng trên
2,000 người, phía VNCH có 384 người chết, 1800
bị thương, Mỹ 147 người chết, 857
người bị thương, trận chiến Huế
thê thảm và tàn khốc nhất trong cuộc Tổng công
kích, tổn thất tại đây cao nhất v́ bị
địch chiếm gần một tháng. VC tàn sát, chôn
sống rất nhiều tù binh gồm quân nhân công chức và
t́nh nghi trên đường rút lui. Từ khi CSBV rút đi,
các hố chôn người tập thể đă
được khai quật, chính quyền đă t́m
được khoảng 5,000 xác nạn nhân, khoảng 2,000
người mất tích. Thiếu tá Cảnh Sát Liên Thành,
cựu phó ty cảnh sát Thừa Thiên cho biết hồi
đó ông điều tra bắt được huyện
ủy Phú Vang tên Hồ Ty, bí danh Sơn Lâm, hắn là
người chủ chốt thi hành lệnh của Quân
ủy Trị Thiên thanh toán tất cả những
người chúng đă bắt đem theo.
"Tên Sơn Lâm cho biết
rằng khi chúng rút lui th́ bị quân đội VNCH và Mỹ
truy đuổi quá gắt gao, lo cho đơn vị cũng
không nổi làm sao lo được cho tù binh. Vả lại
số người bị chúng bắt theo quá nhiều đă
làm vướng bận không thể rút lui nhanh
được, lệnh của quân khu Trị Thiên là
giết hết tất cả tù binh. Vụ thảm sát
tết Mậu thân tại Huế đến giờ này chúng
ta cũng không biết đây là lệnh của quân khu
Trị Thiên hay là chính sách của Trung ương Đảng CSVN.
Về phía nhà cầm quyền CS th́ chúng luôn luôn chối
bỏ không có vụ giết trên 5,000 người tại
Huế"
Cuộc đối thoại
dưới đây giữa Thiếu Tá Liên Thành và Sơn Lâm,
huyện ủy Phú Vang cho thấy rơ bộ mặt thật
của cái gọi là Giải phóng:
"Khi dẫn tên Sơn Lâm
đi chỉ những hầm chúng chôn xác nạn nhân, tôi
hỏi nó: “Tại sao các anh dă man tàn ác vậy? Cũng là
người với nhau, không thù oán ǵ cả mà các anh dùng
cuốc đánh vào đầu người ta cho đến
chết th́ tôi không thể nào tưởng tượng
nổi. Đối với con vật chúng ta cũng không
thể nào làm như vậy”. Nó bảo: “Các anh phải
biết rằng, chúng tôi không có đạn. Đạn
phải để dành để đánh nhau với các anh
chứ đạn đâu mà bắn tù. Lệnh trên bảo
dùng phương tiện cuốc xẻng, dao búa để
thanh toán. Chúng tôi không thể đem theo tù binh
được nên phải giết hết. Thà giết
lầm c̣n hơn bỏ sót v́ biết đâu trong số tù
binh đó có người làm t́nh báo hoặc làm cho CIA, cho nên
chúng tôi đâu có tha được."
Trong bài Mậu Thân Ở
Huế, ông Nguyễn Lư Tưởng cho biết tại Phú
Cam có hơn 300 người đàn ông bị bắt trong nhà
thờ, VC đem họ đi giết tập thể
tại khe Đá Mài thuộc quận Nam Ḥa Thừa Thiên. Gần
hai năm sau người ta mới t́m ra được
chỗ này, một số học sinh cũng bị
địch giết. Cộng quân chôn sống Nghị Sĩ
Trần Điền. Thiếu Tá Từ Tôn Kháng, Tỉnh đoàn
trưởng xây dựng nông thôn bị trói ngoài sân, bị
xẻo tai, xẻo mũi, tra tấn cho đến chết.
VC tra tấn, tàn sát các đảng viên Đại Việt Cách
Mạng tổng cộng khoảng 300 người. Những
mồ chôn tập thể tại chùa Áo Vàng, sân trường
Gia Hội phường Phú Cát hoặc Phú Cam... có hằng
trăm nạn nhân bị chôn sống trong những nấm
mồ tập thể. Nạn nhân bị đâm bằng
lưỡi lê, đánh vỡ sọ bằng cán cuốc,
bị bắn hay chôn sống. Ba ông bác sĩ người
Đức, giáo sư Đại Học Y Khoa Huế bị
giết v́ nghi là CIA. Tại quận Hoài Nhơn, VC tàn sát 300
người, trong đó có cả trẻ em, bà già. Tại Phú
Vang, Phú Thứ có nhiều hầm chôn tập thể,
tại những nơi mà VC tàn sát người ta có lập
bia kỷ niệm, nhưng sau 1975, chính quyền CS cho
đập phá hết.
Theo tác giả Elje Vannema, trong
bài Thảm Sát Huế Mậu Thân, bọn Mặt Trận
Giải Phóng lo phần chính trị, họ ghi tên hầu
hết mọi người, chú trọng đàn ông, chia thành
phần công chức quân đội, thường dân... Theo
tác giả, quân chính qui Bắc Việt và quân Mặt Trận
lo phần quân sự tác chiến, bọn Mặt Trận
nhất là những cán bộ nằm vùng địa
phương lo việc chính trị, xử án, thủ tiêu,
bắn giết... họ muốn bắt ai, muốn giết
ai th́ giết có khi không cần lư do... Cuộc tàn sát tại
Huế do cán bộ CS nằm vùng và Mặt Trận Giải
Phóng tiến hành.
Sau 1975, chúng tôi có hỏi
một bộ đội người cùng làng về vụ
tàn sát Huế Mậu Thân 68, anh ta nói bọn Mỹ Ngụy
giết dân rồi đổ cho cách mạng. Một Trung tá
CS tâm sự với thân nhân của ḿnh sau 1975 rằng vụ
tàn sát là do ức quá, VC bị phía VNCH, Mỹ bắn hạ
quá nhiều mà không chiếm được đất nên
đă tàn sát tù binh để trả thù. Nay chính quyền CS
tuyên truyền giáo dục cho học sinh tại Huế
về tội ác Mỹ Ngụy đă giết hại và chôn
tập thể mấy ngh́n người trong trận Mậu
Thân. Một cô gái Huế mới sang định cư
tại Mỹ theo diện lấy Việt kiều đă than
với những người Việt tại đây như
sau: "Tết Mậu Thân 1968, Mỹ Ngụy giết và
chôn sống mấy ngh́n người, sao ác quá vậy?"
Mặc dù nay chính quyền CS có
thể tuyên truyền xuyên tạc với một số
người lớp trẻ nhưng không thể nào che
giấu được tội ác tầy trời của
họ trước lịch sử. CS sợ người ta
nói tới Tết Mậu Thân Huế y như "cú sợ
mặt trời" v́ nó nhắc lại cuộc tàn sát
đẫm máu nhất, lớn lao nhất của họ
trong cuộc chiến tranh giữa người Việt
Quốc gia và CS. Mặc dù cuộc tàn sát ấy là một
tội ác lớn lao của nhân loại nhưng nó lại
không được báo chí cũng như truyền h́nh trên
thế giới nhắc tới mấy, họ chỉ
đưa ra h́nh ảnh một ông Tướng cảnh sát VN
cầm súng lục bắn vào đầu một cán binh CS
tại Sài g̣n 1968 để tuyên truyền chống chiến
tranh.
Nay mặc dù người ta
đă công bố chính thức số nạn nhân của
chế độ CS trên thế giới là 100 triệu
người, gấp 7, 8 lần số nạn nhân của
Đức Quốc Xă và Phát Xít Nhật, nhưng giới
truyền thông quốc tế chỉ chú ư tới những
người Do Thái bị tàn sát trong các trại diệt
chủng mà không thấy nhắc tới những nạn nhân
CS chết thảm khốc khắp nơi như tại
cố đô Huế hồi Mậu Thân chẳng hạn.
Cộng quân tấn công
Quảng Tín, Quảng Ngăi trễ vào ngày Mồng Hai Tết
nên bị thảm bại. Tại Quảng Tín, 4 mục tiêu
là Tiểu khu, Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 VNCH, Bộ chỉ
huy tiểu đoàn 22 pháo binh, cổng ga xe lửa. VC dùng 2
tiểu đoàn tấn công bộ chỉ huy Trung đoàn 6
nhưng bị đẩy lui ngay, sau đó tấn công ṭa
hành chánh tiểu khu. Hai bên giao tranh đến sáng th́
địch bỏ chạy. Nhờ trực thăng yểm
trợ cùng bộ binh tăng viện, VC bị bắn
hạ hàng 100 tên.
Tại Quảng Ngăi dân cư
thưa thớt, một tỉnh nhỏ nhưng tinh thần
chống Cộng rất cao. VC pháo kích dữ dội rồi
đưa hai trung đoàn tấn công nhiều vị trí
của ta như Trung Tâm Huấn Luyện Địa
Phương Quân, Phi trường, Ty Cảnh Sát, Ṭa Hành
Chánh, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2... địch bỏ
lại 80 xác chết. Tại tiểu khu, phi trường, 4
tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn bộ binh
VC tấn công nhưng bị chận đứng. Khi
trời sáng, trực thăng lên yểm trợ đẩy
lui địch, gần 100 tên bỏ xác tại trận. Đêm
Mồng 2, một tiểu đoàn VC tấn công Trung Tâm
Huấn Luyện Địa Phương Quân, hôm sau ta phản
công tái chiếm, 118 tên bỏ xác tại trận. Cuộc
tấn công của CS vào Quảng Tín và Quảng Ngăi thất
bại, thường dân có khoảng hơn 300 người
chết.
Ngày 16-3 trong chiến dịch
tảo thanh, đơn vị của Trung Úy Willam Calley
đă tàn sát khoảng 100 người dân vô tội tại
Ấp Mỹ Lai, xă Song Mỹ, Quảng Ngăi khiến cho phong
trào phản chiến tại Mỹ nhân cơ hội thổi
phồng lên, biểu t́nh đ̣i chấm dứt chiến
tranh.
Tại Vùng 3 chiến thuật
là lănh thổ quan trọng nhất gồm 11 tỉnh: B́nh
Long, Phước Long, Tây Ninh, B́nh Dương, Long Khánh,
Hậu Nghĩa, Biên Ḥa, Long An, Gia Định, Phước Tuy,
Bà Rịa. Sài G̣n được địch chọn làm mục
tiêu, hầu hết lực lượng thuộc Mặt
Trận Giải Phóng. Trước 1968 tại đây VC có 3
sư đoàn (Công trường 5, 7, 9), 3 Trung đoàn
biệt lập, một Trung đoàn pháo và gần 30 tiểu
đoàn Địa Phương Quân. Tại đây QĐVNCH có 3
sư đoàn BB, một liên đoàn BĐQ, tổng cộng 46
tiểu đoàn. Phía Mỹ có 3 sư đoàn đóng tại
Hậu Nghĩa, Phước Tuy, B́nh Dương. Từ
năm 1967 các đơn vị Việt Mỹ đi hành quân
đă bắt được nhiều tài liệu và tới
gần Tết đă có nhiều dấu hiệu cho thấy
VC chuẩn bị đánh Sài G̣n nhưng chính quyền
miền Nam chuẩn bị lỏng lẻo.
Mặt trận Sài G̣n bắt
đầu lúc 2 giờ sáng Mồng 2 Tết tức 31-1-1968,
và chấm dứt đầu tháng 2 Âm Lịch 28-2-1968
gồm 2 giai đoạn:
- Từ Mồng 2 Tết
đến 9 Tết (31-1 tới 7-2), đặc công đánh
dinh Độc Lập, ṭa đại sứ Mỹ, đài phát
thanh, Bộ TTM, phi trường Tân Sơn Nhất. Các
lực lượng chủ lực không kết hợp
được với đặc công.
- Giai đoạn hai từ 7-2
tới 28-2, VC đưa các đơn vị chủ lực
vào trận chiến, nhưng lúc này ta đă chuẩn bị
kỹ càng đánh trả ác liệt. Lực lượng VC
chỉ độ một nửa so với VNCH và Đồng
minh, hỏa lực thua kém. Chúng không có vũ khí nặng
như xe tăng đại bác, tuy nhiên VC được
trang bị vũ khí cá nhân tối tân như AK, B-40. Địch
có ưu thế chủ động tấn công, mặt
trận Sài G̣n là trọng điểm, Phạm Hùng bí thư
Trung Ương Cục miền Nam chỉ định
Nguyễn Văn Linh, tức Mười Cúc làm bí thư toàn
vùng, Vơ Văn Kiệt phó bí thư. Những đơn
vị CS tham gia gồm Công trường 9 có 3 Trung đoàn,
Công trường 7 có 3 Trung đoàn, Công Trường 5 có 2
Trung đoàn.
Phía QĐVNCH khá đông: hai
chiến đoàn Dù và TQLC bảo vệ ṿng đai, ngoài ra
Sư đoàn 25 BB đóng tại Củ Chi, Sư đoàn 5
BB tại Lái Thiêu, Sư đoàn 18 BB tại Xuân Lộc,
cộng thêm các lực lượng Địa Phương Quân
ở Gia Định, Cảnh sát, Hải quân với các giang
thuyền, giang đỉnh ở Cát Lái, Tân An, Không quân
với các máy bay chiến đấu ở Tân Sơn
Nhất và Biên Ḥa. Ở ṿng ngoài thủ đô c̣n 3 sư
đoàn Mỹ: sư đoàn 1, 9 và 25.
Tiệm phở B́nh số 7
đường Yên Đổ Tân Định là trụ sở
Biệt Động Thành. CS mở màn bằng trận đánh
đặc công: 17 tên tấn công Ṭa đại sứ Mỹ
bằng xe Traction, địch bắn thủng tường
tràn vào, giết 2 quân cảnh, chiếm một phần cao
ốc. Các binh sĩ quân cảnh Mỹ liều tấn công
tràn vào qua cửa chính, họ bắn hạ gần hết
số đặc công bên trong, một tên bị bắt làm tù
binh, phía Mỹ có 5 người chết. 18 tên chiếm cao
ốc ở góc Nguyễn Du Thủ Khoa Huân sát dinh Độc
Lập, địch dùng B-40 đánh sập cổng, tràn vào
sân bị cảnh sát, an ninh bắn hạ, 7 chết, 8
bị bắt, 13 tên chạy thoát. Tại đài phát thanh, 12
tên tấn công đài bị cảnh sát và sau cùng lính Dù
bắn hạ gần hết. Tại Bộ TL Hải Quân,
16 đặc công tiến sát vào hàng rào nhưng bị binh
sĩ hải quân tràn ra bắn hạ 10, bắt sống hai,
bốn tên chạy thoát.
Tại Bộ TTM, 27
đặc công tấn công cổng số 5 đường
Vơ Tánh bị đẩy lui, một xe tuần tiễu
Mỹ đi ngang bắn trả lại VC, chúng lẩn vào
chùa Long Hoa bị tiêu diệt hết. Cuộc tấn công
của CS vào Biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh
sát… đều đă thất bại, không tới
được mục tiêu. Từ đợt tấn công
đầu Cộng quân đă bị tiêu diệt ngay, dư
luận báo chí ngoại quốc đă thổi phồng
cuộc tấn công dinh Độc Lập và ṭa Đại sứ Mỹ.
Một tiểu đoàn VC
tấn công Bộ TTM, chiếm Trường Sinh ngữ quân
đội. Địch bố trí trên những cao ốc
đường Vơ Di Nguy nối dài bị Dù đánh bật
ra khỏi trận địa. Hai tiểu đoàn
địch tấn công Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung lúc
2 giờ sáng Mồng 2 Tết để ngăn chận tân
binh về cứu viện Sài G̣n, sau đó chiếm đài
phát tuyến Quán Tre để ra lệnh tổng khởi
nghĩa toàn quốc. V́ đă được báo động
từ đêm Mồng Một, các binh sĩ pḥng vệ
tại Quang Trung với hỏa lực đại liên đă
đẩy lui địch ngay từ đợt tấn công
đầu, 40 VC bỏ xác tại trận.
Tại G̣ Vấp, Trung đoàn
Quyết Thắng CS tấn công trại Phù Đổng
(thiết giáp), trại Cổ Loa (pháo binh). Trại Phù
Đổng chỉ có 40 người bị chiếm dễ dàng,
địch bắt một số quân nhân và vợ con làm con
tin. Trước khi rút, địch giết hết con tin,
cả trẻ nít. Tại trại Cổ Loa, VC bị
cầm chân không chiếm được mục tiêu, ngày mồng
3 Tết TQLC vào giải tỏa khu vực.
Tại mặt trận phía Đông,
VC tấn công trường bộ binh Thủ Đức, Hàng
Xanh. Một tiểu đoàn địch lọt vào Hàng Xanh,
tấn công bót cảnh sát, giết một số
người và thiêu hủy hồ sơ. Một tiểu
đoàn BĐQ từ Thủ đức về giải tỏa,
VC chận dân lại không cho di tản để bắt
họ làm bia đỡ đạn. Chiều Mồng 3
Tết có thiết giáp tăng cường, địch rút
chạy, bỏ lại 85 xác chết, 5,000 người dân
trở thành vô gia cư v́ nhà cửa cháy tiêu tan hết. Trung đoàn
Đồng Nai bị chận đánh ở B́nh Triệu, 2
tiểu đoàn TQLC đă giữ được pḥng
tuyến gây thiệt hại nặng nề cho đối
phương, 300 tên bỏ xác tại trận. Tại
mặt trận phía Tây, phi trường Tân Sơn Nhất, 2
tiểu đoàn VC tới Bà Quẹo đặt Bộ
Chỉ Huy trên nóc hăng dệt VINATEXCO, hăng dệt nằm cách
hàng rào phi trường chừng 100 thước. Một
tiểu đoàn VC tràn qua băi đất trống đầu
phi đạo, một đại đội Dù và một
số sĩ quan không quân cùng hai chiến xa M-48
được đưa tới đầu phi đạo
ngăn chận địch, 162 tên bị bắn hạ,
số c̣n lại rút về hướng xưởng
dệt.
Khi trời sáng, không quân oanh
tạc dữ dội, những vị trí đóng quân của
CS trong hăng dệt và vùng lân cận bị tiêu diệt
hết. Tại trường đua Phú Thọ, VC và cảnh
sát dă chiến giao tranh dữ dội, địch phân tán
mỏng vào khu cư xă Lữ Gia, chợ Thiếc, tại
khu Bà Hạt, Trần Quốc Toản, Lư Thái Tổ.
Trận đánh diễn ra dữ dội. Tại khu
trường đua Phú Thọ VC để lại gần
100 xác chết, địch hoàn toàn thất bại trong
mưu toan chiếm Biệt Khu Thủ Đô. Cộng quân bị
săn đuổi ẩn nấp trong dân chúng, những trận
oanh kích tạo thành những đám cháy lớn, thiệt
hại vật chất rất cao khiến cho số nạn
nhân chiến tranh ngày càng gia tăng.
Tại phía Nam, 2 tiểu
đoàn VC tiến vào ngoại vi quận 7, quận 8, dân
chúng lánh nạn ồ ạt, nhà cửa bị phá hủy
rất nhiều. Khi tiếng súng bắt đầu nổ,
phía VNCH bị bất ngờ, chỉ có 50% hay 30% ứng
chiến, cả Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu
và Tướng Cao Văn Viên đều bác bỏ yêu cầu
của Tướng Wesmoreland đề nghị rút hưu
chiến từ 36 xuống c̣n 24 giờ. Các tướng lănh
đă quá tự tin và thiếu cảnh giác, Tổng Thống
Thiệu mới đắc cử về Mỹ Tho quê
vợ ăn Tết, Tướng Vĩnh Lộc cũng
bỏ về Sài G̣n ăn Tết. Sáng 30 Tết, 29-1 sau khi có
tin địch sẽ tấn công Vùng 1 và 2, chính phủ
Nguyễn Văn Thiệu vẫn không chú ư tới việc
loan báo rút ngắn giờ hưu chiến.
Tại Thủ đô, các
đơn vị Dù, TQLC, các lực lượng cơ
hữu của thủ đô, cảnh sát dă chiến,
thiết giáp, Bộ TTM, Bộ TL Hải Quân... đă chiến
đấu dũng cảm, bẻ gẫy mũi tấn công
của biệt động thành và đặc công cho tới
khi các lực lượng tăng viện của VNCH kéo
về kịp thời. TQLC ở Cai Lậy kéo về
khiến VC thảm bại, quân đội và cảnh sát
đă chận đứng các cuộc tấn công tự sát
của địch. Không quân đă yểm trợ hữu
hiệu. Từ Mồng 3 Tết VC bắt đầu nao
núng, đặc công bị tiêu diệt gần hết, các
đơn vị của Trần Văn Trà không thể vào nội
thành được, địch thiếu đạn. Sang
ngày Mồng 4 Tết VC càng yếu thế và bắt
đầu rút. Tính đến 7-2 đă có tới 86,000 dân
tị nạn trong các trại.
Tại khu Bắc, thành Cổ
Loa, CS bị bắn hạ 180 tên, VNCH có 16 người
tử thương. Tại đường Minh Phụng,
Chợ lớn ngày 8-2 VC đốt nhà dân để rút lui
từ 17, 18, địch chỉ nhằm phá hủy cầu
cống, đồn bót nhỏ. Trong tháng 2 và 3 VNCH bị
tử thương 323 người, VC có 5,290 người
chết, 415 người bị bắt, gần 2000 vũ khí
đủ loại bị tịch thu.
Về mặt chính trị, CS
hoàn toàn thất bại, dân chúng không hề tham gia nổi
dậy như họ hằng mơ ước, như
đài Hà Nội đă rêu rao. Dân chúng đă không hưởng
ứng biểu t́nh do CS tổ chức mà c̣n chỉ
điểm cho chính quyền VNCH biết những nơi có
cơ sở VC, những nơi địch lẩn trốn.
Các cơ sở nằm vùng bị bại lộ tan ră gần
hết, chính phủ VNCH có cơ hội gần gũi
với nhân dân hơn, người dân thù ghét CS qua các hành
động tàn ác đốt nhà, bắn giết, tàn sát tù
binh... Thiệt hại vật chất của ta lên rất
cao, đô thành phải tiếp nhận khoảng 200 ngàn
người tỵ nạn. Ngày 23-2 Bộ Trưởng
Quốc Pḥng Mc Namara từ chối đơn xin tăng
viện của Tướng Wesmoreland. Gần một tháng
sau, ngày 22-3, Johnson tuyên bố thay thế Wesmoreland và Đô
Đốc Grant Sharp, Tư lệnh Thái B́nh Dương. Ngày
31-3-1968, ông cũng tuyên bố không ra tái tranh cử, hạn
chế oanh tạc BV, công khai nhờ Nga và Anh t́m cách ḥa
giải cuộc chiến tranh VN.
Công trường 9 VC
được lệnh tấn công Trung Tâm Huấn Luyện
Quang Trung, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Mỹ để
chận đứng sự tiếp cứu Sài G̣n, một
trung đoàn khác tấn công Thủ Đức. Công trường
7 VC có 2 trung đoàn, một tấn công Sư đoàn 1 BB
Mỹ ở Lai Khê, đánh B́nh Dương, Bộ TL Sư
đoàn 5 VNCH.
Công trường 5 cho 2 trung
đoàn 274 và 275 tấn công BTL dă chiến Mỹ ở Long
B́nh, BTL Quân Đoàn 3 VNCH ở Biên Ḥa. Các lực lượng
quanh thủ đô gồm vài tiểu đoàn hỗ trợ
cho cuộc tấn công Sài G̣n. 3 giờ sáng ngày Mồng 2
Tết 29-1, Trung đoàn 274 VC đánh phi trường Biên
Ḥa, tràn vào hàng rào phía Tây. Máy bay trực thăng tới
cứu, dùng hỏa châu soi sáng mục tiêu và hạ
được 114 tên. Trung đoàn VC tấn công BTLQĐ 3
thất bại và bỏ chạy. Ngày hôm sau trung đoàn này
rút về Trảng Bom bị bắn hạ khoảng 100 tên.
Toàn bộ trận đánh địch bị tử
thương hơn 500, 40 tên bị bắt.
Tại Cần Thơ, VC
đưa 2 tiểu đoàn U Minh và Tây Đô tham dự cuộc
tấn công này. Cần Thơ canh pḥng lỏng lẻo,
trực gác chỉ có 30%, 3 giờ sáng ngày 2 Tết tiểu
đoàn Tây Đô khởi sự tấn công Bộ TLQĐ 4 nhưng
bị đẩy lui, tiểu đoàn U Minh tràn vào khu
đại học, đài phát thanh, hai bên tranh nhau từng
căn nhà. Đêm Mồng 2 Tết địch âm thầm rút
ra khỏi thành phố.
Tại Vĩnh Long, VC tập
trung 3 tiểu đoàn 306, 308, 857 tấn công thị xă. Chúng
cải trang xâm nhập thành phố từ trước
Tết. Địch không chiếm được khám
đường tỉnh nơi giam giữ trên 800 tù nhân CS.
Sang ngày Mồng 2 chúng phải rút. VC tấn công ṭa hành chánh,
phi trường nhưng không chiếm được
mục tiêu và đă bị trực thăng tiêu diệt
hết. Ngày Mồng 6 Cộng quân bị đánh bật ra
khỏi thành phố. Một nhân chứng tại đây trong
ngày Tết cho biết lính VC tác chiến rất dở.
Mười ngày sau, tối 15-2 địch lại tấn
công đợt hai nhưng cũng thất bại, 300 tên bị
tử thương, thường dân chết và bị
thương khoảng 200 người, 4,500 nhà cửa hư
hại 50%.
Kiến Ḥa có hai ḥn đảo
Bến Tre và Mỏ Cầy nằm giữa ba chi lớn
của sông Tiền giang: đảo Bến Tre gồm 2
phần B́nh Đại ở phía Bắc và Giồng Trôm ở
phía Nam. VC đột nhập tỉnh đêm Mồng 2
Tết, chúng bao vây các khu quân sự chiếm các khu phố.
Tỉnh trưởng Kiến Ḥa tử trận, sáng
Mồng 3 Tết Trung đoàn trưởng trung đoàn 10
điều động 2 tiểu đoàn về giải
tỏa, 2 tiểu đoàn Mỹ cũng được
đưa vào trận địa. Không quân VN và Đồng minh
oanh kích dữ dội các chốt tử thủ của VC
khiến cho nhà cửa tại Bến Tre bị hư
hại đến 50%, khoảng gần 100 người
thường dân tử thương.
Tướng Westmoreland với
chiến lược lùng diệt địch đă tảo
thanh những mật khu lớn của VC như Tam Giác
Sắt, Chiến Khu C, D, song song với chương tŕnh
b́nh định và xây dựng nông thôn. Chương tŕnh
cũng đă giúp cho miền Nam thêm vững mạnh.
Nguyễn Chí Thanh định tung một cuộc tấn công
vào các thành phố ngắn hạn rồi triệt thoái, Thanh
chết Mùa Thu 1967, Vơ Nguyên Giáp bèn biến kế hoạch
ấy thành tổng công kích. Từ sau 1965, Cộng quân
đụng với hỏa lực hùng hậu của Mỹ
đă bị thương vong rất nhiều, CSBV đă phải
bắt lính cả những thanh niên 17, 18 tuổi để
phục vụ cho nhu cầu chiến trường.
Hà Nội lại áp dụng
chiến lược cũ kỹ có từ thời chống
Pháp, cố đấm ăn xôi lỳ lợm để
hỗ trợ cho phong trào phản chiến tại Mỹ.
Thập niên 50 Việt Minh đă làm cho người Pháp
phải ghê sợ, chán ghét cuộc chiến tranh Đông
Dương, 19 chính phủ đă bị đánh đổ v́
không giải quyết được cuộc chiến, nay
Mỹ lại đi đúng vào vết xe đổ của
Pháp. Đầu năm 1968 Tướng Wesmoreland đă
đề nghị với Tướng Wheeler, tổng tham
mưu trưởng gửi thêm tăng viện 200 ngàn quân
trước cuối năm 1968 để mở rộng
chiến tranh qua Miên, Lào hoặc đánh qua vĩ tuyến 17
để tiêu diệt hậu cần VC. Kế hoạch
rất hợp lư về phương diện quân sự
nhưng Bộ Trưởng Quốc Pḥng Mc Namara không
chấp nhận. Tổng Thống Johnson không quyết
định dứt khoát, người Mỹ không thống
nhất hành động. Tại Mỹ các tướng lănh
không có thẩm quyền về chiến lược, họ
là những nhà chuyên môn quân sự nhưng lại bị các
nhà chính trị lănh đạo. Các nhà chính trị Mỹ
dường như không muốn chiến thắng mà họ
muốn cù cưa kéo dài chiến tranh. Có giả thuyết cho
rằng Hành pháp Mỹ đă bị tài phiệt, tư
bản giựt dây kéo dài chiến tranh để họ bán
vũ khí hoặc tiêu thụ số súng đạn tồn
kho từ Thế Chiến Thứ Hai.
Nói về mặt quân sự,
VNCH thắng VC ngay trong tuần lễ đầu. Mặc dù
Hà Nội tung vào mặt trận tới 84 ngàn quân nhưng
từ ngày Mồng 5 trở đi Cộng quân đă bị
dồn vào thế bị động, chúng phải rút lui và
chịu nhiều rất thiệt hại về nhân
mạng.
Theo tài liệu của Bộ
Tổng Tham Mưu QLVNCH, trong tháng 2-1968 VC bị giết
41,180 người, tháng 3-68 bị bắn hạ 17,192,
người tổng cộng 58,372 người, bị
bắt làm tù binh toàn bộ 9,461 người. Trong số
84,000 cán binh được đưa vào trận Tổng
Công Kích chỉ c̣n 16,168 tên chạy thoát, chưa tới 20%.
Vũ khí bị ta và đồng minh tịch thu là 17,439
khẩu súng đủ các loại. Phía VNCH có 4,950
người tử trận, 926 người bị mất
tích, 15,097 người bị thương. Phía đồng
minh có 4,120 người tử trận, 19,265 người bị
thương, 600 người mất tích. Về vũ khí ta
mất hơn 2,000 khẩu súng, 63 máy bay bị tiêu hủy,
154 chiếc bị hư hại nặng, 99 chiếc bị
hư hại nhẹ. Đồng minh có 60 máy bay bị tiêu
hủy, 60 chiếc hư hại nặng, 116 chiếc hư
hại nhẹ. Thường dân chết trên toàn quốc có tới
14,300 người, bị thương 24 ngàn, tị nạn
627 ngàn người.
Thiệt hại vật
chất của VNCH rất cao tại Huế: 2/3 tổng
số nhà cửa bị phá hủy. Vùng 2 có 12 ngàn căn nhà
bị phá hủy. Vùng 3 có 10 ngàn căn bị phá hủy. Sài
G̣n có 19 ngàn căn bị hủy. Vùng 4 có 19 ngàn căn bị
tiêu hủy. Những tỉnh bị thiệt hại
nặng nề nhất là Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuộc, Mỹ
Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Châu Đốc, Cần Thơ, Sài
G̣n, Huế và Phan Thiết. Vùng Cao nguyên và Vùng 2 tương
đối khả quan hơn. Kinh tế cũng bị
ảnh hưởng tai hại, ngoài các thành phố thị
trấn bị tàn phá, có tới 13 xưởng kỹ
nghệ đổ nát v́ bom đạn, 20 hăng xưởng
khác bị hư hại, thiệt hại lên tới 25
triệu Mỹ kim. Nạn nhân chiến tranh lên cao gần
700 ngàn người, ngân quĩ cứu trợ ước
lượng 100 tỷ đồng. Tại Sài G̣n đă
thiết lập hơn 100 trung tâm tạm cư để
tiếp đón khoảng 200 ngàn người chạy
loạn, 130 ngàn người không c̣n nhà cửa.
Chánh Đạo trong cuốn
"Mậu Thân 68 Thắng Hay Bại?" cho biết VNCH có
khuyết điểm lớn:
"Về phía Việt Nam
Cộng Ḥa, chỉ nguyên việc để quân Cộng
Sản bí mật chuyển khí giới vào thành phố, hay âm
thầm chuyển quân tới tuyến tấn công là một
khuyết điểm rất lớn. Các cơ quan an ninh quân
sự cũng như dân sự chịu một phần trách
nhiệm. Hoặc v́ tư lợi, hoặc v́ cầu nhàn,
họ đă không kiểm soát được những
đường dây đưa chất nổ và vũ khí
tới các cơ sở cộng sản trong thành phố... Đó
là chưa kể tệ nạn tham nhũng, móc ngoặc
đă thành cố tật trong hàng ngũ các đơn vị
cảnh sát, an ninh kiểm soát giao thông... khiến CS an toàn
đưa vào các thành phố và thị xă hàng tấn
thuốc nổ, đạn dược, và vũ khí."
Ngoài ra giới chức cao
cấp như tổng thống, tướng vùng đă quá
tự tin cho rằng VC sẽ không vị phạm hưu
chiến trong nhưng ngày thiêng liêng của dân tộc.
Mặc dù bị tấn công bất ngờ và không
đầy đủ quân số ứng trực nhưng binh
sĩ VNCH đă làm chủ t́nh h́nh sau mấy ngày giao
chiến.
Người Mỹ cho rằng
VNCH và đồng minh yếu kém về t́nh báo y như
trận Pearl Harbour hồi Thế chiến Thứ hai, VC
bảo mật tốt, hoàn toàn bất ngờ, cuộc
Tổng Công Kích làm ngạc nhiên cấp lănh đạo và
quần chúng Mỹ. Tuy nhiên VC cũng đă phạm vào
nhiều sai lầm trầm trọng đưa tới
thảm bại trong cuộc tấn công tự sát này.
Hà Nội đánh giá sai hoàn toàn
tâm lư quần chúng miền Nam, thấy dân chúng biểu t́nh,
tuyệt thực chống chính phủ liên miên như vụ
Phật Giáo miền Trung năm 1966 th́ tưởng rằng
hễ phát động Tổng Công Kích là nhân dân sẽ ùa theo
ngay để cùng cách mạng lật đổ chính
quyền Mỹ Ngụy. Hà Nội hy vọng cuộc
Tổng Công Kích sẽ tiêu diệt và làm tan ră đại
bộ phận ngụy quân ngụy quyền, tiêu diệt
một phần quan trọng sinh lực và phương
tiện chiến tranh của Mỹ và đập tan ư chí xâm
lược buộc đế quốc phải chịu thua
để tiến tới thống nhất đất
nước.
Lê Duẩn nói dùng binh lực
đánh quị các đơn vị chủ lực của
địch, tổng tấn công các thành phố lớn và
phát động hàng triệu quần chúng tại các tỉnh
và miền quê nổi dậy tổng khởi nghĩa.
Nhưng thực tế cho thấy quần chúng không nổi
dậy hưởng ứng tổng khởi nghĩa mà họ
c̣n chỉ điểm cho cảnh sát, quân đội bắt
VC. Họ bồng bế nhau chạy trốn CS về vùng
Quốc gia. Chính v́ thất bại nên VC đă đốt nhà
dân, tàn sát tù binh, dân lành vô tội để trả thù. CSBV
đánh giá quá thấp lực lượng Mỹ ngụy,
họ tưởng rằng đánh vào đầu năo bộ máy
quân sự là địch chạy như vịt ngay. Nhưng
thực tế cho thấy mặc dù có yếu tố bất
ngờ, VC đă bị đánh bật ra khỏi các thành
phố sau mấy ngày giao chiến.
Hậu quả của sự
thất bại là 100 tiểu đoàn bị tan ră gần
hết, có tới 70% bị tử thương 11% bị
bắt làm tù binh, các cơ sở nằm vùng bị bại
lộ, tiêu diệt. Một bộ trưởng của
Mặt Trận Giải Phóng nói cuộc Tổng Công Kích
đă mang lại nhiều hậu quả tai hại không
ngờ cho Mặt Trận và CSBV. Hoàng Văn Hoan, cựu
bộ trưởng công an BV trốn sang Tầu 1979 nói CS
đă bị tổn thất nặng nề trong trận
Tết Mậu Thân.
Nhiều người đă
đặt nghi vấn tại sao CSBV lại mở cuộc
tấn công tự sát như vậy. Toàn bộ lực
lượng địch là 84 ngàn người, hầu
hết thuộc Mặt Trận Giải Phóng, mặc dù có
vũ khí tối tân như AK, B-40 nhưng không có vũ khí
nặng, xe tăng đại bác, pḥng không... làm sao
địch lại lực lượng trên 800 ngàn
người của VNCH, trên 500 ngàn quân Đông Minh Mỹ,
Đại Hàn, Úc... trang bị tối tân. Có thể nói đó là
trứng chọi đá. Sir R. Thompson, một chuyên viên về
du kích, chiến cho rằng Hà Nội muốn
"nướng" hết lực lượng của
Mặt Trận Giải Phóng để BV có cớ
đưa quân vào. Tướng Weyand phân tích cuộc Tổng
Công Kích nói: "Việt Cộng dẫn đầu cuộc
tấn công và bị tiêu diệt để bảo
đảm thống nhất do BV thống trị". Ngoài
ra một thượng tá VC cũng có nói: 'Nó cho nướng
sạch VC để sau này Bắc Kỳ vào thay thế
hết'. Trong cuốn hồi kư Cuộc Chiến Dang Dở
trang 260, 26, Tướng Trần Văn Nhật cho biết:
"Tướng Wesmoreland vào
cuối năm 1995, trong buổi tiếp tân và phỏng
vấn tại nhà tôi, ông nói 'ông đă biết trước
các âm mưu của CSBV sẽ tấn công VNCH vào dịp
Tết Mậu Thân 1968, nhưng ông không thể 'bật mí' v́
có ư định nhử Cộng quân tập trung vào các thành
phố để tiêu diệt dễ hơn là t́m đánh
chúng trong rừng núi'. Theo ông, nhờ chiến thuật nay
nên sau Tết Mậu Thân, toàn bộ các đơn vị
của Mặt Trận Giải Phóng Miền nam đều
bị loại khỏi ṿng chiến".
Nhưng theo các tài liệu khác
như của Tướng Hoàng Lạc th́ trước
Tết mấy ngày, Tướng Wesmoreland đă cho ông
Thiệu biết VC sẽ tổng tấn công, ông đề
nghị rút giờ hưu chiến từ 36 tiếng c̣n 24
tiếng nhưng ông Thiệu không tin và không chịu nghe theo.
Cuộc tấn công của CS
vào dịp Tết Mậu Thân nhằm vào lúc cuộc tranh
cử đợt đầu giữa các ứng cử viên
trong đảng bắt đầu. Cuộc tổng tấn
công để gây tiếng vang đă được bộ
máy tuyên truyền của Liên Xô giúp sức "đổ
dầu vào lửa" cho phong trào phản chiến tại
Mỹ cháy to hơn. Giới truyền thông phản chiến
Mỹ đă thổi phồng cuộc tấn công lên thành
chiến thắng lớn lao của Cộng quân khiến cho
người dân nghi ngờ những lời tuyên bố
lạc quan của chính phủ Mỹ. Tướng Wesmoreland
phúc tŕnh cuối năm 1967, trước Tết mấy ngày
cho rằng Cộng quân đă bị đẩy lui khỏi
những vùng đông dân, VC đă bị hoàn toàn yếu
thế, nhưng mấy ngày sau địch tung ra trận
Tổng Công Kích tàn khốc gây ảnh hưởng lớn
lao đến báo chí truyền h́nh Mỹ tạo bước
ngoặt cho cuộc chiến tranh Việt Nam. Cuộc
Tổng Công Kích đă khiến cho nhóm nghiên cứu của
Bộ Trưởng Quốc Pḥng đề nghị Mỹ hạn
chế can thiệp vào VN để thay thế bằng
Việt Nam hóa chiến tranh (Vietnamization). Tướng Green,
cựu tư lệnh TQLC lại bi quan nói dù có giết
hết VC ta cũng vẫn có thể thất trận.
Ngoài việc tiếp tay cho các
phong trào phản chiến Mỹ, bộ máy tuyên truyền
của Nga Xô c̣n phát động phong trào chống Mỹ
tại nhiều nước trên thế giới, nhất là
tại Âu Châu để tạo dư luận áp lực
Mỹ phải rút quân bỏ VN.
Có nhiều nhà b́nh luận phía
Mỹ cũng như VN đă nh́n nhận trận Mậu
Thân là một khúc quanh đối với tinh thần ủng
hộ của người dân Mỹ cho cuộc chiến
tranh VN, nó khởi đầu một khúc quanh bi đát cho
số phận miền Nam. Phong trào phản chiến càng lên
cao dữ dội hơn, hành pháp đă nghĩ tới ḥa
giải, Việt Nam hóa chiến tranh, rút quân về
nước.
Dư luận chung cho rằng
trận Tổng Công Kích Mậu Thân kéo dài mấy tuần là
một thảm bại về quân sự của Bắc
Việt và Mặt Trận Giải Phóng, nhưng thắng
lợi về tuyên truyền của họ đă tạo
một khúc quanh của tinh thần ủng hộ của
người Mỹ cho cuộc chiến (Commonly referred to as the Têt offensive, this period of several weeks
is generally regarded as a military disaster, but a psychological and
propaganda victory for the NFL and North Forces, as this marked a sharp turning
point in American sentiment and support for the war effort - Massacre at Hue,
from Wikipedia,
the free encyclopedia).
Cuộc
Tổng Công Kích đă khiến cho các lực lượng CS
bị thiệt hại nặng nề cả về quân
số cũng như tinh thần. Tuy nhiên nó lại tạo
hậu quả bất lợi trên dư luận quần
chúng Mỹ và đẩy mạnh phong trào phản chiến
lên cao hơn (The large scale
offensive resulted in drastic human and morale losses of the Communist forces.
However, the offensive cause an extreme negative effect in the American public
opinion and boost the more bitter protest against the war . From "My war",
unpublished by L.T, More about the 1968 Tet offensive).
Cho
tới gần đây, bộ máy tuyên truyền của Hà
Nội đă luôn ca ngợi trận Mậu Thân là một
chiến thắng lớn lao về quân sự và không hề
thấy họ nói đến thắng lợi của nó trên
tinh thần nhân dân Mỹ... Hiển nhiên giới lănh
đạo Hà Nội đă đạt được
một chiến thắng vô giá mà họ không dự
định (Until lately, The Hanoi
propaganda and political indoctrination system has always claimed the Tet
offensive their military victory, and never insisted on their victory over the
morale of the American public... Obviously, Hanoi leaders won a priceless
victory at an unintended objective. From "My war"...)
Khi
Huế vừa được các đơn vị Việt
Mỹ tái chiếm, đài VOA có nói: "Hôm nay ngày 26-2-1968,
cố đô Huế đă được hoàn toàn giải
tỏa, chấm dứt một cuộc chiến tranh
bẩn thỉu nhất kéo dài từ gần một tháng
qua..."
Người
Mỹ gọi cuộc chiến VN là cuộc chiến tranh
bẩn thỉu (dirty war), một kẻ thù bẩn thỉu
không từ một chiến thuật, chiến lược
bẩn thỉu nào để giành thắng lợi. Họ
tỏ ra khinh bỉ một kẻ thù tiểu nhân dùng toàn
những thủ đoạn đê hèn, đánh cả trong
ngày Tết một ngày thiêng liêng nhất của dân tộc,
lợi dụng ngưng bắn, lợi dụng hưu
chiến để tấn công, miệng nói ḥa b́nh tay ŕnh
đánh trộm. CS đă tỏ ra quá hèn khi mở chiến
dịch tấn công ngày Tết lợi dụng lúc nhân dân
đang vui mừng Xuân mới. Cuộc Tổng Công Kích
đă khiến cho Mặt Trận Giải Phóng bị
tổn thất gần hết lực lượng cơ
hữu, bị dân chúng tại các thành phố cũng như
thị trấn căm thù oán ghét v́ địch đă tỏ
ra quá tàn ác nhẫn tâm sát hại hàng ngh́n hằng vạn
lương dân vô tội, đốt nhà dân để tháo
chạy, chôn sống, tàn sát tù binh... Sau Tết Mậu Thân,
nhiều thanh niên hăng hái t́nh nguyện nhập ngũ
tại các trung tâm huấn luyện quân sự để ṭng
quân giết giặc.
Mặc dù CS bị thất
bại về quân sự và thất nhân tâm, nhưng cuộc
Tổng Công Kích mặc nhiên lại mang nhiều bất
lợi cho miền Nam. Như đă nói ở trên, nó trở
thành một khúc quanh bi thảm trong cuộc chiến tranh
Đông Dương lần thứ hai. Người Mỹ đă
bắt đầu ghê tởm kẻ thù cố đấm
ăn xôi, ĺ lợm, họ nghĩ rằng không thể
thắng nổi thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi,
một kẻ thù thí quân sẵn sàng đẩy thanh niên vào
chỗ chết. CSBV đă thành công trong chiến lược
cố đấm ăn xôi từ cuộc chiến tranh
chống Pháp 1946-1954, họ đă tỏ ra ĺ lợm, dai
như đỉa đói khiến cho người Pháp đă
phải quá chán ghét, ghê sợ cuộc chiến tranh Đông
Dương đ̣i rút quân càng sớm càng tốt, 19 chính
phủ đă bị đánh đổ trong suốt 8 năm
khói lửa. CSVN được Nga Xô tiếp tay đă ra
sức mở mặt trận chính trị tại Pháp,
đẩy mạnh phong trào chống chiến tranh, nay BV
một lần nữa lại áp dụng cái chiến
lược cũ rích ấy, họ đă ra lệnh cho các
cán binh phải giết cho nhiều người Mỹ
để thúc đẩy phong trào phản chiến tại
hậu phương đế quốc. CS đă làm cho
đế quốc phải ghê tởm ḿnh tức là họ
đă thành công, đă khiến cho đế quốc phải
rút quân bỏ lại chiến trường bẩn thỉu.
Cuộc Tổng Công Kích đă
khiến cho phong trào phản chiến bùng nổ dữ
dội hơn lên, người dân Mỹ cho rằng không
thể thắng được cuộc chiến tranh dai
dẳng này. Chính phủ cũng bắt đầu thấm
mệt v́ vừa phải đương đầu với
kẻ địch, lại phải đương
đầu với phong trào chống chiến tranh ngay trong
nước. Tổng Thống Johnson không tái tranh cử nhiệm
kỳ 2 từ 1969-1973 để t́m cách rút chân ra khỏi VN.
Ngày 10-5-1968 phiên họp đầu tiên của Ḥa Đàm Ba Lê
bắt đầu. Tháng 1 năm 1969 Nixon nhậm chức
tổng thống, thực hiện Việt Nam Hóa chiến
tranh, rút quân về nước. Khi chuyển sang giai
đoạn Việt Nam hóa chiến tranh, người Mỹ
đă nghĩ đến việc rút quân bỏ Việt Nam.
Từ 1970 họ bắt đầu đi đêm với
Trung Cộng. Ngày 9-7-1971 Kissinger bí mật gặp Chu Ân Lai
tại Bắc Kinh... Việt Nam đă bắt đầu
trở thành món hàng mua bán đổi chác giữa các thế
lực siêu cường.
Trọng Đạt
II- TƯỜNG THUẬT CHI
TIẾT
Cuộc
thảm sát tại Huế
TIME
31-10-1969
"Lúc
đầu th́ họ không dám bước xuống gịng
suối", một trong những người thuộc toán
t́m kiếm kể lại. “Nhưng mặt trời đang
lặn và cuối cùng th́ chúng tôi bước xuống
nước, cầu nguyện cùng những người
chết xin hăy thông cảm cho chúng tôi”. Những người
thuộc toán t́m kiếm, khảo
sát gịng suối cạn trong một khe núi ở phía nam thành
phố Huế đă cầu nguyện cho sự thông
cảm v́ những người chết nằm ở đây
đă không được chôn cất suốt 19 tháng trời, mà theo tín
ngưỡng Việt Nam th́ linh hồn của họ bị
trừng phạt phải vất vưởng ở thế
gian do hậu quả đó. Trong ḍng suối, toán t́m kiếm
đă t́m thấy những ǵ mà họ đang t́m kiếm -
khoảng 250 xương
sọ và một
đống xương người. “Các tṛng mắt th́ sâu và đen, và nước suối
chảy tràn qua các xương sườn”, một
người Mỹ có mặt tại hiện trường
cho biết.
Sự
khám phá kinh khiếp này vào hồi cuối tháng trước
đă nâng tổng số lên khoảng 2,300 xác của đàn ông, đàn bà và trẻ con được đào lên chung
quanh thành phố Huế. Tất cả đă bị
cộng sản hành quyết
vào khoảng thời gian 25 ngày
Việt cộng tấn công mănh liệt vào thành phố,
trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968.
Những xác chết trong ḍng suối ở Nam Ḥa thuộc
về 398 người
đàn ông ở quận Phủ Cam một khu vực của
thành phố Huế. Vào ngày thứ 5 của cuộc tấn
công, bộ đội Cộng sản xuất hiện
tại nhà thờ chính ṭa Phủ Cam, nơi những
người đàn ông này trú ẩn cùng gia đ́nh họ, và
dẫn họ đi. Bộ đội Cộng sản nói
rằng những người đàn ông sẽ
được tuyên truyền học tập và cho phép
trở về, nhưng gia đ́nh họ đă không bao
giờ nghe ǵ về họ nữa. Tại chân núi Nam Ḥa, cách
mười dặm từ nhà thờ chính ṭa, những người bị
bắt đă bị bắn hoặc đập cho
đến chết.
Những ngôi mộ tập
thể lộ thiên.
Khi
cuộc tấn công vào Huế chấm dứt ngày 24-02-1968,
khoảng 3,500 thường
dân bị mất tích. Một số rơ ràng là bị chết
trong lúc loạn lạc và nằm chôn vùi dưới
những đống gạch đổ nát. Nhưng khi dân
chúng và quân đội chính quyền bắt đầu
việc dọn dẹp, th́ họ gặp phải nhiều ngôi mộ tập
thể được chôn vội vàng ở phía tây Thành Nội,
là một cổ thành bao bọc hoàng cung cũ của
Huế. Khoảng 150 xác
người được đào lên từ nấm mồ tập thể
đầu tiên, nhiều xác
bị cột lại với nhau bằng dây kẽm và
bằng dây lạt tre. Một số bị bắn, c̣n số khác th́ rơ ràng là đă bị chôn sống. Hầu
hết các nạn nhân là viên chức chính phủ hoặc
những người làm việc cho Mỹ, bị bắt
đi trong một cuộc lục soát từng cửa nhà
người dân do cán binh Cộng sản có cầm theo
những danh sách đen với
đầy đủ chi tiết. Nhiều ngôi mộ tương tự đă t́m
thấy bên trong thành phố
và ở phía tây nam, gần khu vực lăng tẩm của các hoàng đế Việt
Nam. Trong số các xác được đào lên có thi hài
của 3 vị bác sĩ
người Đức làm
việc tại Viện
Đại học Huế.
Chiến dịch t́m kiếm.
Trong
suốt năm đầu tiên sau biến cố Tết
Mậu Thân, có nhiều tin đồn dai dẳng cho rằng
có nhiều sự kinh khiếp đă xảy ra trong những
đụn cát ở phía tây nam thành phố. Hồi tháng 3
năm ngoái, một nông dân đă vướng chân vào một
sợi dây kẽm, khi ông ta lôi kéo sợi dây kẽm th́ một mảnh xương tay
ḷi lên khỏi đống cát. Chính quyền lập
tức phát động một chiến dịch t́m kiếm.
“Có một số dải
đất nơi mà cỏ mọc dài và rất xanh
tươi một cách bất b́nh thường”, phóng viên
thường trực William Marmon của tạp chí TIME
tường tŕnh hồi tuần trước tại
Huế. “Bên dưới
những chùm cỏ dại tươi tốt một cách bí
hiểm này là những nấm mồ tập thể, cứ
20 đến 40 xác vào một mộ. Khi tin tức về
sự khám phá này trở nên rơ ràng, th́ công việc làm ăn
được tạm ngưng và từng đoàn
người kéo ra Phú Thứ để t́m kiếm thân nhân mất
tích đă lâu, sàng lọc qua từng mớ quần áo
giầy dép và vật dụng cá nhân. H́nh như họ hy
vọng rằng họ sẽ t́m được ai đó và
đồng thời cũng hy vọng rằng họ sẽ
không t́m được người nào”, theo một viên
chức Hoa Kỳ cho biết. Cuối cùng th́ 24 địa điểm
đă được đào lên và thi hài của 809 người đă
được t́m thấy.
Vụ
khám phá ở gịng suối thuộc quận Nam Ḥa không
xảy ra cho đến hồi tháng trước – sau một lời khai báo của
một cán binh cộng sản về hồi chánh. Gịng
suối và cái bí mật khủng khiếp đă
được giấu kín dưới
tàn cây rừng rất rậm rạp cho đến nỗi
các băi đáp phải được dọn dẹp bằng
chất nổ trước khi trực thăng có thể
đáp xuống để thả các toán t́m kiếm. Trong
3 tuần lễ, thi hài
của các nạn nhân được để trên các
kệ dài trong một trường học gần đó, và
hàng trăm người dân Huế đă đến
để nhận diện thân nhân mất tích của
họ.
Sự tuyên
truyền lơ là.
Điều ǵ đă khiến
cộng sản gây ra cuộc thảm sát? Nhiều
người dân Huế cho rằng lệnh hành quyết được đưa
thẳng xuống từ Hồ Chí Minh. Nhưng có lẽ
một cách chắc chắn, đơn giản hơn là
cộng sản đă mất tinh thần. Họ đă bị nhồi sọ để
tin tưởng rằng nhiều người dân miền
Nam sẽ xuống đường tranh đấu cùng
với họ trong cuộc tổng tấn công vào dịp
Tết. Nhưng điều đó đă không xảy ra, và
khi trận chiến ở Huế phần thắng bắt
đầu nghiêng về phía quân đồng minh, th́ rơ ràng là Việt cộng đă hoảng sợ và giết sạch các tù
nhân để rảnh tay tẩu thoát.
Chính quyền VNCH, cho rằng Việt cộng đă
giết chết 25,000
thường dân từ năm 1957 và bắt cóc thêm 46,000 người khác, đă
lơ là trong việc dùng vụ thảm sát để tuyên
truyền. Tại Huế th́ không phải cần đến
chuyện đó. Theo Đại tá Lê Văn Thân, tỉnh
trưởng địa phương, th́ “Sau cuộc
Tổng tấn công Tết Mậu Thân, mọi người
đều biết rằng Việt cộng sẽ giết
họ, không cần biết đến lập trường
chính trị”. Nỗi suy nghĩ sợ hăi đó đă ám ảnh nhiều
người dân miền Nam, nhất là những người
làm việc cho chính phủ
của họ hoặc cho
người Mỹ. Với sự triệt thoái của
quân đội Hoa Kỳ đang bắt đầu, vụ
thảm sát tại Huế có lẽ đă đưa ra
một thí dụ rùng rợn của những ǵ có thể
sẽ xảy ra trong tương lai”.
Chứng nhân thầm lặng
Mậu Thân ở Huế
Nguyễn Phúc Liên Thành
Dân chúng miền Nam, ai ai
cũng kinh hoàng khi nhớ lại hành động bỉ
ổi của bọn Việt cộng, lợi dụng
những giờ phút linh thiêng của đêm giao thừa tết
Mậu Thân, khi mọi người tin vào lời tuyên bố
hưu chiến của chúng, đang quây quần bên nhau
đón xuân, th́ chúng xua quân tràn ngập các tỉnh thành
miền Nam, gieo rắc tang tóc cho biết bao dân lành. Riêng
đối với người dân xứ Huế, khi
nhắc đến hai chữ Mậu Thân, gần như nó
không c̣n gắn liền theo thứ tự của
mười hai con Giáp, mà là một tiếng vọng riêng
biệt, có tác động cực mạnh, nhắc nhở
đến một cuộc tàn sát man rợ nhất trong
lịch sử dân tộc. Trong cuộc tiến công vào
dịp Tết Mậu Thân năm 1968, VC đă chiếm
được thành phố Huế và kiểm soát trên 20 ngày.
Trong thời gian đó, chúng đă thủ tiêu, chôn sống, giết
chết hàng ngàn người dân vô tội. Khi rút lui chúng
cũng đă bắt theo hàng ngàn dân và đă tàn sát tập
thể trước khi rút vào mật khu.
Cho đến nay vẫn c̣n
nhiều câu hỏi xung quanh sự kiện này. Đây là
một cuộc tàn sát có chủ đích? - Vậy mục
đích đó là ǵ? - Quy mô cuộc tàn sát nầy đến
đâu? - Ai chịu trách nhiệm?
Vụ thảm sát tại
Huế rơ ràng bị giới truyền thông quốc tế
lờ đi, chỉ nói sơ qua mà không tŕnh bày tin tức
nào cho xứng đáng với tầm mức thực sự.
Cộng Sản Hà Nội đă t́m cách xóa đi những
dấu tích, có bằng chứng hiển nhiên để
chối bỏ trách nhiệm và chạy tội, nhưng
lịch sử th́ làm sao xóa được..... Lại c̣n
những người dân Huế, những Quân, Cán, Chính,
những người đă sống, làm việc ở
Huế trong thời gian này, mà cuộc tàn sát đẫm máu
đó, đă in hằn những nét sâu đậm trong con tim,
khối óc họ, nay mới có dịp thuật lại -
Họ là những chứng nhân thầm lặng rất
đáng tin cậy.
Chúng tôi được hân
hạnh nói chuyện với cựu Thiếu Tá Liên Thành, Trưởng
Ty Cảnh Sát Thừa Thiên, Huế. Vào thời điểm
Tết Mậu Thân, anh đang giữ chức vụ Phó
Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt. Phần nói
chuyện này chỉ chú trọng đến các tin tức
t́nh báo trước và sau tết Mậu Thân, các tội ác
của cộng sản, chứ không chú trọng đến
vấn đề chiến thuật.
+
+ +
Thiên
Nga: Cám ơn anh Liên Thành
đă đồng ư cho chúng tôi nói chuyện với anh về
biến cố Tết Mậu Thân tại Huế. Cũng
giống như anh, tôi là người Huế và lại tham
chiến trong chiến dịch giải tỏa Cố đô.
Biến cố Tết Mậu Thân và những điều
Việt cộng đối xử với dân Huế đă
in đậm một vết nhơ trong lịch sử dân
tộc không thể nào xóa mờ được.
Th/Tá
Liên Thành: Có ǵ đâu mà anh phải khách sáo cám ơn, anh
với tôi đă quen nhau từ hồi c̣n đi học. Ông
cụ thân sinh của anh là cố Thượng nghị
sĩ Trần Điền, người bị VC sát hại
trong dịpTết Mậu Thân tại Huế, ông là một
huynh trưởng kỳ cựu của Hướng
Đạo Việt Nam và cũng là bạn của thân
phụ tôi. Điều tôi thắc mắc là tại sao anh
lấy danh hiệu là Thiên Nga, có vẻ con gái quá, hay là tên cô
bồ cũ?
Thiên
Nga: Anh nhắc đến
ông cụ thân sinh cũng làm cho ḿnh buồn, hai cụ thân
thiết với nhau cũng giống như anh và tôi. Thân
phụ anh là con của Kỳ Ngoại Hầu Cường
Để. Sau ngày 30-4-1975, cụ cũng không thể nào thoát
được sự đày đọa trả thù của
bè lũ VC. C̣n nói về danh hiệu Thiên Nga th́ có ǵ đâu,
đó là danh hiệu truyền tin cuối cùng năm 1975
của tôi đó. Dùng tên đó như một kỷ niệm
vậy thôi. Bây giờ chúng ta đi vào đề tài:
Huế, Tết Mậu Thân. Như
anh đă biết khi đơn vị quân đội
muốn mở một cuộc hành quân th́ phải biết
t́nh h́nh và lực lượng địch. Điều mà tôi
muốn biết là về phía t́nh báo của các anh, các anh
đă biết ǵ về hoạt động và những
sự chuẩn bị của VC để tấn công
Huế.
Th/Tá
Liên Thành: Câu hỏi của anh rất tổng quát nên tôi
phải trả lời hơi dài gịng một tí cho nó rơ ràng.
Như anh đă biết, hai tỉnh Quảng Trị và
Thừa Thiên là Khu 11 Chiến Thuật của Quân Khu 1.
Năm 1966 theo quyết định của trung ương
đảng CS, chúng gọi hai tỉnh Quảng Trị,
Thừa Thiên là Quân Khu Trị Thiên và tên được
bổ nhiệm chỉ huy đầu tiên là Thiếu
tướng Trần văn Quang. Phụ tá cho Trần
văn Quang kiêm trưởng ban an ninh quân khu là Đại Tá
Lê Minh. Bộ chỉ huy quân khu của chúng di động
trong vùng A Sao, A Lưới, Tà Bạt hoặc vùng quốc
lộ số 9, đường đi nam Lào. Cái gọi là
quân khu Trị Thiên của VC không có đơn vị chủ
lực cơ hữu, chúng xử dụng các đơn
vị của tỉnh đội Thừa Thiên và Quảng
Trị làm đơn vị ṇng cốt cho chúng. Khi cần
mở các cuộc hành quân lớn, chúng sẽ điều
động các đơn vị chủ lực từ phía bắc
vĩ tuyến 17 xâm nhập vào. Đường xâm nhập
của chúng là vượt sông Bến Hải, qua vùng phi quân
sự hoặc xâm nhập theo đường 9 Nam Lào.
Đơn vị ṇng cốt của tỉnh đội
Thừa Thiên là Trung đoàn 5 đặc công, gồm có
Tiểu đoàn K1 và K12. Trung đoàn này do tên Thân trọng
Một chỉ huy. Tên này là dân Huế, thuộc làng
Nguyệt Biều, theo VC từ hồi c̣n kháng chiến
chống Pháp.
Bây giờ chúng ta nói về
biến cố Tết Mậu Thân tại Huế và sự
điều động các đơn vị của VC. Khi
Trung ương đảng Cộng sản quyết
định đánh Huế th́ tên chỉ huy quân khu Trị
Thiên là Trần văn Quang và Lê Minh phản đối,
viện lư do là không đủ quân số. Quân số của
chúng chỉ khoảng 4500 và đạn dược chỉ
đủ dùng trong ṿng một tuần đến 10 ngày.
Nếu đánh chiếm Huế muốn cố thủ lâu dài
theo lệnh của trung ương th́ không đủ quân
số, chúng quyết định xin trung ương tăng
viện. Trung ưong bảo rằng cứ đánh chiếm
đi rồi sẽ có tăng cường. Nhưng đó
chỉ là đ̣n đánh lừa của Trung ương
đối với Quân khu Trị Thiên mà thôi.
Khi đánh chiếm Huế
chúng chia làm ba mặt trận: - Thứ nhất là mặt
trận Thành Nội do tên đại tá Lê trọng
Đấu chỉ huy. - Thứ hai là mặt trận Quận
Nh́ do tên chính uỷ Hoàng Lanh chỉ huy. - Thứ ba là mặt
trận Quận Hữu Ngạn tức Quận Ba do tên
Nguyễn mậu Hiên bí danh Bảy Lanh chỉ huy. Tên Bảy
Lanh là con nuôi của nhà thuốc bắc Thiên Tường
tại chợ An Cựu.
Khi chiếm được
vùng An Cựu th́ Thiên Tường và hai người con trai
đă đi lùng bắt tất cả những người
quốc gia cư ngụ trong vùng Ḍng Chúa Cứu Thế.
Trong đó có cả thân phụ của anh là cố
Thượng nghị sĩ Trần Điền, chúng đă
bắt đi và sát hại trên 500 người. Hai
người con trai của Thiên Tường là cán bộ Xây
Dựng Nông Thôn, thuộc loại nằm vùng của VC.
Thiên
Nga: Lúc đó tôi đi phép
về nhà ăn Tết và cũng suưt bị chúng bắt. Tôi
biết nhà thuốc bắc Thiên Tường ở gần
cầu An Cựu. Vậy khi chúng bắt các nạn nhân
đi rồi th́ cha con Thiên Tường đi theo chúng luôn
hay vẫn c̣n trụ lại tại chỗ?
Th/Tá
Liên Thành: Chúng vẫn c̣n lẫn quẩn tại chỗ,
v́ nghĩ rằng VC sẽ chiếm giữ thành phố
Huế lâu ngày. Sau khi biết được hành
động của cha con Thiên Tường, ngày mồng 7
Tết, tôi ra lệnh cho một biệt đội
đặc biệt phải bắt cho bằng
được cha con Thiên Tường. Biệt đội
đă thành công, bắt được cả ba cha con.
Bây giờ trở lại
vụ tấn công Tết Mậu Thân. Giờ giấc
khởi sự vụ tấn công th́ sách vở cũng đă
nói giờ này giờ khác, riêng tôi liên lạc với các
Cuộc Cảnh Sát trong toàn thành phố th́ biết trái súng
cối đầu tiên nổ ở sân bay Thành Nội là
hiệu lệnh tấn công của VC. Sau khi có hiệu
lệnh tấn công th́ Thân trọng Một tấn công vào
lănh thổ Quận Hữu Ngạn tức Quận ba, chúng
đă chiếm được hết, ngoại trừ Ty
Cảnh Sát, cơ quan MAC-V của Mỹ và Tiểu Khu
Thừa Thiên. Lư do chúng không chiếm được Ty
Cảnh Sát và Tiểu Khu Thừa Thiên là do sức kháng
cự mănh liệt của quân trú pḥng. Một điều
đáng chú ư là Ty Cảnh Sát và cơ quan MAC-V nằm
đối diện với nhau, bên nầy và bên kia
đường. Chúng tấn công Ty Cảnh Sát vào đúng
3giờ15 sáng mồng 1 Tết, kéo dài cho đến sáng,
chúng tấn công nhiều đợt nhưng vẫn không làm
ǵ được. Chúng tôi dùng lựu đạn từ trên
lầu ném xuống, cho nên chúng không thể tấn công vào
được. Một điều vô cùng ngạc nhiên là VC
tấn công Ty Cảnh Sát bên nầy đường, trong khi
đó cơ quan MAC-V bên kia đường vẫn b́nh an vô
sự. Cơ quan MAC-V tắt đèn nằm im, không bắn
một phát súng. Tôi thắc mắc vô cùng, tự hỏi không
hiểu tại sao. Cuối cùng tôi có một quyết
định thật táo bạo, tôi dùng súng phóng lựu M79
bắn hai phát vào cơ quan MAC-V. Sau khi hai phát đạn M79
nổ vào cơ quan MAC-V th́ c̣i báo động của cơ
quan nầy hú vang và lính Mỹ lúc đó mới xuất
hiện, hai chiếc xe tăng ở đâu đó trong cơ
quan MAC-V lù lù chạy ra trấn giữ ngay trước
cổng. Thế là Ty Cảnh Sát coi như được
hai chiếc xe tăng bảo vệ. Việt Cộng rút lui
và chúng tôi an toàn.
Thiên
Nga: Sau một đêm bị
tấn công, đơn vị của anh có bị thiệt
hại nào không?
Th/Tá
Liên Thành: Không có thiệt hại nào đáng kể,
nhưng có một điều vô cùng đau ḷng mà sau này tôi
mới phát giác ra, đó là chuyện ông Trưởng Ty
Cảnh Sát của tôi là ông Đoàn công Lập. Tôi là Phó Ty
Đặc Biệt. Sáng hôm đó ông bảo tôi: Anh lo pḥng
thủ Ty Cảnh Sát c̣n tôi sẽ ra chiếm đài phát
thanh. Tôi bảo: Làm sao anh đi được. Thế mà
ông ấy đă làm được. Ông cho đục bức
tường ở phía sau Ty Cảnh Sát và đem một trung
đội ra chiếm được đài phát thanh, trên
đường đi ông không đụng độ với
đơn vị VC nào, kể cả khi vào đến
đài phát thanh. Lúc đó tôi phục ông ta vô cùng. Nhưng
đến muà hè đỏ lửa năm 1972, khi tôi bắt
được tên Trung tá Hoàng Kim Loan mới phát giác ra là ông
Trưởng Ty của tôi là nội tuyến. Mục
đích của ông ta khi chiếm đài phát thanh ngày mồng
7 Tết là: nếu VC đánh thắng, th́ sẽ cho phát thanh
cuốn băng thâu sẵn của Lê văn Hảo. Tôi nói
sơ qua về Đoàn công Lập, anh ta là người
của trung đoàn 95 đánh nhau với quân đội Pháp
ở vùng Thiên Hương, sau đó anh ta về hồi
chánh, nhưng đó chỉ là sự đầu thú trá h́nh,
về nằm vùng cho đến năm 1966 th́
được ra làm Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa
Thiên. Đến năm 1968 chúng xử dụng
Đoàn
công Lập chiếm giữ đài phát thanh để
nếu chiếm được Huế sẽ cho phát thanh
cuốn băng của Lê văn Hảo.
Thiên
Nga: Coi như VC đă
chiếm được một phần rất lớn thành
phố Huế. Tại sao lúc đó Đoàn công Lập không
cho phát thanh cuốn băng thâu sẵn của Lê văn
Hảo?
Th/Tá
Liên Thành: Chúng nó chưa cho phát thanh cuộn băng đó
v́ tại Quận Nhất chúng chưa chiếm
được Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ
Binh, Quận Ba chúng chưa chiếm được Ty
Cảnh Sát, chưa chiếm được MAC-V và Tiểu
Khu Thừa Thiên, nên xem như chúng chưa thành công. Chúng
chỉ chủ động được trong ṿng khoảng
7 ngày. Trong ṿng 7 ngày đó quân đội Mỹ không tham
chiến. Một điều tức tối và ngoài sức
tưởng tượng của ḿnh là xe VC chạy
dưới đường và lính Mỹ đứng trên
lầu MAC-V đưa tay "hello".
Thiên
Nga: Lúc đó anh có biết
t́nh h́nh về phía Sư Đoàn 1 và Tiểu Khu ra sao không?
Th/Tá
Liên Thành: VC đánh vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn
1 nhưng không làm sao chiếm được. Thiếu
tướng Ngô quang Trưởng, Tư Lệnh Sư
Đoàn bị kẹt ngay ngày đầu tiên tại tư
thất ở đường Lê thánh Tôn. Trung tá Tỉnh
Trưởng Lê văn Khoa đă trốn thoát và ẩn náu
trong bệnh viện Trung ương Huế. Ông Tổng Lănh
Sự Mỹ bị kẹt trong ṭa Tổng Lănh Sự
tại đường Lư thường Kiệt và bị
bắt. Một trung đội TQLC Mỹ xuất phát
từ cơ quan MAC-V đến giải cứu ông Tổng
Lănh Sự th́ đă quá trễ. Trên đường trở
về lại MAC-V, trung đội này đă cứu
được Tướng Ngô quang Trưởng.
Tướng Trưởng bị kẹt một ngày một
đêm mới vào được Bộ Tư Lệnh Sư
Đoàn tại Mang Cá. Trung Tá Phan văn Khoa đến 7 ngày
sau mới vào được Tiểu Khu. Trong suốt 7 ngày
đầu của cuộc chiến, tôi liên lạc với Tiểu
Khu th́ chỉ có một người duy nhất trả
lời là Đại úy Nguyễn văn Tố, Tham mưu
Trưởng.
Thiên
Nga: Là người
điều hành ngành Cảnh Sát Đặc Biệt, anh có
biết được những tin tức hoặc dấu
hiệu ǵ là VC sẽ tấn công Huế hay không?
Th/Tá
Liên Thành: Trước khi xảy ra trận Tổng công
Kích Tết Mậu Thân, thật t́nh mà nói ai cũng biết
là VC sẽ tấn công, không phải chỉ VNCH biết mà
phía Mỹ cũng dư sức để biết. Nhưng
chỉ không biết vào thời điểm nào thôi. Tin
tức chúng tôi nhận được có rất nhiều
chỉ dấu là VC đang chuẩn bị. Thứ nhất
về vấn đề quân sự, các tin t́nh báo cho biết
các đơn vị quân sự của địch đă di
chuyển về gần thành phố hơn, nguồn tin
kỹ thuật phát hiện rất nhiều điện
đài lạ hoạt động trong phạm vi gần
thành phố. Một chỉ dấu quan trọng khác là các
cơ sở hoạt động của VC ở gần
Huế đă biến mất hết, các nhân viên nằm vùng
của chúng ta trong cơ sở của địch đă
không liên lạc được. Sau đó chúng tôi được
biết các cơ sở đó chúng đă gọi về
mật khu họp kín và giữ lại đó không cho về
để bảo mật. Đến những ngày gần Tết,
tin tức từ các quận gởi về cho biết là
không hiểu tại sao dân chúng lại giết chó nhiều
quá. Chúng đă chuẩn bị để khi đơn
vị chúng di chuyển khỏi bị lộ v́ chó sủa.
Một chỉ dấu kế tiếp nữa là chúng ra
lệnh cho dân chúng tích trữ lương thực. Một
số cơ sở không quan trọng được chúng
điều động trở ngược lên xâm nhập
vào dân chúng, với mục đích chuẩn bị tải
thương. Điều quan trọng cuối cùng là một
số thành phần thoát ly năm 1966 đă đột
nhập nội thành. (Năm 1966 xảy ra biến cố
Phật Giáo tranh đấu tại miền Trung, sau biến
cố đó các thành phần được VC gài vào trong
phong trào đă bị lộ mặt, nên chúng phải rút vào
mật khu, như các tên Hoàng phủ ngọc Tường,
Hoàng phủ ngọc Phan, Phan duy Nhân, Nguyễn đắc
Xuân...). Phía Cảnh Sát đă biết sự xâm nhập
đó, kể cả những buổi hội họp của
chúng, nhưng tôi chưa cho lệnh bắt v́ chờ
đợi cho đầy đủ sẽ hốt luôn
một mẻ lớn.
Một nguồn tin quan
trọng khác mà chúng tôi nhận được là: toán
tiền sát của Tiểu đoàn Đặc công K1 của
chúng đă xâm nhập thành phố Huế. Sau khi phối
hợp và tổng kết những tin tức đă thu
nhận được, tôi đă làm tờ tường
tŕnh và tŕnh lên cho Tr/Tá Phan văn Khoa. Trong tờ
tường tŕnh tôi cũng kèm theo những dữ kiện
do cơ quan t́nh báo Mỹ cung cấp và của cố
vấn Cảnh Sát đặc biệt cung cấp. Năm nay
cũng như các năm trước, phía VC và chính phủ
VNCH đồng thỏa thuận đ́nh chiến trong
dịp Tết Nguyên Đán. V́ lư do đó, trong những ngày
gần Tết, các đơn vị trong Tiểu Khu
đều được xả trại để về
nhà ăn Tết. Tôi báo với Tr/Tá Khoa là VC đă xâm
nhập vào thành phố quá nhiều, thế nào chúng cũng tấn
công.
Thiên
Nga: Tiểu Khu Thừa Thiên
đă phản ứng như thế nào đối với
các bản báo cáo của anh?
Th/Tá
Liên Thành: Tôi đề nghị với Tr/Tá Tỉnh
Trưởng ra lệnh cấm trại, v́ anh em binh sĩ
được về nhà ăn Tết, trong đơn
vị chẳng c̣n bao nhiêu người. Cũng đề
nghị Tr/Tá lên đài phát thanh ra lệnh giới nghiêm kêu
gọi anh em binh sĩ trở lại đơn vị. Sau
đó tôi cùng đi với Tr/Tá Khoa đến BTL/SĐ1 tŕnh
bày với tướng Trưởng nhưng tướng
Trưởng bảo rằng tin tức phải xem lại,
không chính xác. Các đề nghị của tôi đều không
được chấp thuận.
Cuối cùng tôi đành làm
liều một ḿnh. Chiều 30 Tết tôi cho Cảnh Sát Dă
Chiến hành quân bao vây và thanh lọc chợ Đông Ba.
Từ phiá Ty Thông Tin trên đường Trần hưng
Đạo kéo dài cho đến cầu Gia Hội
đều được kiểm soát chặt chẽ. Sau
đó kêu gọi tất cả dân chúng đang buôn bán trong
chợ phải ra khỏi chợ để tŕnh giấy
tờ. Chúng tôi đă bắt được 8 tên đặc
công đang ẩn nấp trong chợ. (tất cả 8 tên
đặc công nầy đều được xác
nhận bởi thành phần chỉ điểm của ta).
Thiên
Nga: Bây giờ xin anh nói
đến sự hoạt động của VC khi chúng
đă chiếm được Huế một thời gian
khá dài là 29 ngày. Trong thời gian đó chúng đă làm ǵ và
tổ chức những ǵ?
Th/Tá
Liên Thành: Tôi không nói đến vấn đề quân
sự, vấn đề các đơn vị của QLVNCH
và đơn vị của Mỹ tái chiếm thành phố
Huế v́ không thuộc phạm vi của tôi. Bây giờ nói
đến phía VC, chúng đă làm ǵ khi chiếm
được một phần của thành phố Huế.
Khi chiếm được
Huế, chúng tổ chức hai lực lượng:
- Một lực lượng
chúng gọi là ủy Ban Nhân Dân. Lực lượng này do tên
Hoàng Kim Loan điều động và giao cho Nguyễn
hữu Vấn là giáo sư trường Cao Đẳng
Mỹ Thuật làm chủ tịch.
- Lực lượng thứ
hai là lực lượng Liên Minh Dân Chủ Dân Tộc Hoà
B́nh của Trịnh đ́nh Thảo giao cho Lê văn Hảo
làm chủ tịch. Lê văn Hảo là giáo sư Nhân
chủng học đại học Huế và Sàig̣n. Hảo
gốc người Huế, sang Pháp học từ năm
1953. Tại Paris, Hảo chịu ảnh hưởng
của Trần văn Khê và Nguyễn khắc Viện.
Về nước năm 1965 Hảo dạy học ở
Huế và Sàig̣n. Năm 1966 Hảo tham gia phong trào "ly
khai" ở
Huế. Giữa năm 1967 Hảo được bạn học
cũ là Hoàng phủ ngọc Tường và Tôn thất
dương Tiềm, một cán bộ cộng sản
nằm vùng, móc nối vào Mặt trận Giải phóng
miền Nam. Phó chủ tịch gồm có bà Tuần Chi (tên
thật là Đào thị xuân Yến ) hiệu trưởng
trường nữ trung học Đồng Khánh và "Ôn
Linh Mụ" tức Hoà Thượng Thích Đôn Hậu
(đương kim Chánh Đại Diện Phật Giáo
miền Vạn Hạnh). Các thành phần cốt cán gồm
có: Nguyễn Đóa cựu giám thị trường Quốc
Học, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc
Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Duy Nhân, Phạm Thị Xuân
Quế, Tôn Thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương
Kỵ, Tôn Thất Dương Hanh...
Sau đó tên Nguyễn Đắc
Xuân tổ chức thêm một lực lượng nữa là
Lực lượng Nghĩa Binh. Năm 1966 chính tên Xuân
đă tổ chức đoàn " hật tử quyết
tử". Chúng gọi lực lượng này là quân nhân ly
khai, lực lượng gồm những quân nhân đi phép
Tết bị kẹt trong vùng chiếm đóng của chúng.
Một số quân nhân này cũng đă bị thiệt
mạng khi quân đội VNCH tái chiếm Huế. Tên Nguyễn
Đắc Xuân cũng đă lập thêm một lực
lượng Nghĩa Binh Cảnh sát, giao cho Nguyễn Văn
Cán là cựu Trưởng Ty Cảnh Sát làm đoàn
trưởng. (Nguyễn Văn Cán làm Trưởng Ty
Cảnh Sát sau khi Tổng Thống Ngô đ́nh Diệm bị
lật đổ, ông này là ngạch Quận Trưởng,
có bằng cử nhân Luật, là em ruột của bà chủ
tiệm Phú Nghĩa trên đường Trần Hưng
Đạo Huế. Ông ta có người anh tập kết ra
Bắc, là cơ sở nằm vùng của Hoàng Kim Loan.)
Thiên
Nga: VC chiếm
được Huế gần một tháng và chúng đă
giết hại trên năm ngàn người. Theo ư anh tại
sao chúng không lấy ḷng dân chúng mà lại tàn sát dă man như
vậy?
Th/Tá
Liên Thành: Tôi cũng thắc mắc giống như anh,
không hiểu tại sao chúng muốn chiếm đất mà
lại giết dân, nhưng sau đó tôi được
biết lư do. Kể cho anh hơi dài ḍng một tí. Có một
hôm, chiếc xe Jeep của tôi bị gài ḿn ngay dưới
ghế ngồi của tôi, nhưng may quá, ḿn không nổ. Khi
điều tra th́ tôi bắt được một
người cảnh sát dă chiến của tôi làm nội
tuyến cho VC và chính tên này đă gài ḿn vào xe tôi. Điều
tra và phăng theo đường dây, tôi bắt được
tên huyện ủy viên của quận Phú Vang là Hồ Ty, bí
danh Sơn Lâm. Đây là tên chủ chốt thi hành lệnh
của quân ủy Trị Thiên: thanh toán tất cả
những người bị chúng bắt theo khi rút lui
khỏi Huế. Khi điều tra, tôi hỏi nó tại sao
lại giết tất cả những người chúng
đă bắt đem theo. Tên Sơn Lâm cho biết rằng khi
chúng rút lui th́ bị quân đội VNCH và Mỹ truy
đuổi quá gắt gao, lo cho đơn vị cũng
không nổi làm sao làm lo được cho tù binh. Vả
lại số người bị chúng bắt theo quá
nhiều, đă làm vướng bận không thể rút lui
nhanh được, lệnh của quân khu Trị Thiên là
giết tất cả tù binh. Vụ thảm sát Tết
Mậu Thân tại Huế đến giờ nầy chúng ta
cũng không biết đây là lệnh của quân Khu Trị
Thiên hay là chính sách của trung ương đảng
Cộng Sản VN. Về phía nhà cầm quyền CS th́ chúng
luôn luôn chối bỏ không có vụ giết trên 5000 ngàn
người tại Huế.
Thiên
Nga: Làm sao chúng có thể
chối bỏ việc thảm sát dân Huế
được, đây là một tội ác tày trời. Tóm
tắt chỉ có một điều: không có ǵ - ngoài tội
ác- có thể biện minh cho những cái chết oan khiên
của người dân xứ Huế. Đối với
người dân Huế, khi nhắc đến hai chữ
Mậu Thân, gần như nó không c̣n gắn liền theo
thứ tự của mười hai con giáp, mà như là
một tiếng vọng đặc biệt, tượng
trưng cho một cuộc tàn sát man rợ. Ai chịu trách
nhiệm cho cuộc tàn sát này ? Bộ chính trị Trung
ương đảng Cộng Sản VN phải trả
lời như thế nào đối với lịch sử
dân tộc về hành động giết người dă man
này? Đây có phải là cuộc tàn sát đẫm máu
nhất, lớn nhất trong cuộc chiến tranh giữa
người Việt Quốc Gia và Cộng Sản không?
Th/Tá
Liên Thành: Tôi rất đồng ư với anh, đây là
tội ác tày trời, nói theo giọng điệu của VC
là: "Trời không dung, đất không tha". Dầu có
viết một cuốn sách thật dày cũng không liệt
kê hết được những tội ác của bọn
chúng. Khi dẫn tên Sơn Lâm đi chỉ những hầm
chúng chôn xác nạn nhân, tôi hỏi nó: "Tại sao các anh dă
man tàn ác vậy, cũng là người với nhau, không thù
không oán ǵ cả mà các anh dùng cuốc đánh vào đầu
người ta cho đến chết th́ tôi không thể nào
tưởng tượng nổi. Đối với con
vật chúng ta cũng không thể nào làm như vậy”. Nó
bảo: "Các anh phải biết rằng, chúng tôi không có
đạn, đạn phải để dành để
đánh nhau với các anh chứ đạn đâu mà bắn
tù, lệnh trên bảo dùng phương tiện cuốc
xẻng, dao búa để thanh toán. Chúng tôi không thể
đem theo tù binh được nên phải giết hết,
thà giết lầm c̣n hơn bỏ sót, v́ biết đâu
trong số tù binh đó có người làm t́nh báo hoặc làm
cho CIA, cho nên chúng tôi đâu có tha được."
Thiên
Nga: Thế c̣n các thành
phần thoát ly năm 1966 đă đột nhập trở
về lại vào dịp Tết, sau khi VC rút lui th́ thành
phần đó đi đâu?
Th/Tá
Liên Thành: Các phần tử đó đều theo chân VC rút
vào mật khu, như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoà
thượng Thích Đôn Hậu, bà Tuần Chi v.v... sau
đó có một số xâm nhập trở lại hoạt
động.
Thiên
Nga: Theo tôi biết, sau
Tết Mậu Thân t́nh h́nh an ninh tại Huế rất
ổn định v́ những thành phần nằm vùng và thân
Cộng đă theo chân VC rút vào mật khu. Nhưng
đến năm 1972 thời kỳ mùa hè đỏ lửa
lúc VC tấn công Quảng Trị th́ t́nh h́nh tại Huế
như thế nào?
Th/Tá
Liên Thành: T́nh h́nh an ninh tại Huế vào năm 1972
rất nguy hiểm. VC lại muốn áp dụng chiến
dịch tấn công Huế như Tết Mậu Thân. Chúng
đem sư đoàn VC 324 trở về lại bao vây ở
ṿng ngoài, trong nội thành th́ tên Hoàng Kim Loan có kế
hoạch tập họp dân chúng biểu t́nh, tổng nổi
dậy cướp chính quyền, bằng cách chiếm các
cơ sở, công ốc thành phố, ṭa hành chánh, rồi treo
cờ VC lên. Kế hoạch của chúng là như vậy.
May thay tôi đă kịp thời phá vỡ được âm
mưu của chúng. Anh c̣n nhớ năm 1972 VC điều
quân vượt vĩ tuyến 17 đánh chiếm thành
phố Quảng Trị và sư đoàn 3 bộ binh di
tản chiến thuật. Nếu không phá vỡ
được âm mưu ấy th́ khi mất Quảng
Trị và dân chúng di tản ùa vào thành phố Huế, gây
hỗn loạn cho thành phố, th́ VC sẽ nhân cơ
hội bằng vàng ấy thi hành kế hoạch
cướp chính quyền ngay. Một đêm trước
ngày mất thành phố Quảng Trị, tôi cho trực
thăng bay về các quận và chở tất cả
chỉ huy trưởng Cảnh Sát quận về họp
khẩn cấp. Sau khi họp xong, tôi lấy danh sách hạ
tầng cơ sở VC của các quận kể cả
những người có liên hệ gia đ́nh với VC, tôi
kư liền 5000 giấy tạm giữ giao cho các chỉ huy
trưởng quận về bắt ngay. Tôi liên lạc
với cố vấn Mỹ xin biệt phái 6 chiếc
trực thăng, để đưa những người
bị bắt về Huế. V́ số lượng
người bị tạm giữ quá nhiều, tôi xin Trung
tướng Ngô Quang Trưởng cấp cho phương
tiện chuyên chở. Sau đó tất cả những
người nầy được di chuyển bằng
hải vận hạm HQ 500 ra tạm giữ tại
đảo Phú Quốc. Sau khi t́nh h́nh Huế đă ổn
định, quân ta đă tái chiếm Quảng Trị, lúc
đó tôi mới đem những người bị tạm
giữ tại Phú Quốc trở về để thanh
lọc và đă bắt được rất nhiều cán
bộ t́nh báo và cơ sở của VC. Nhờ đó đă
vô hiệu hóa được kế hoạch chiếm Huế
của VC năm 1972.
Cũng vào năm 1972, tôi đă
bắt được một cán bộ t́nh báo nằm vùng
cao cấp của VC là Thiếu Tá Lê Cảnh Thâm, cựu
trưởng ty Cảnh Sát tỉnh Quảng Trị. Lê
Cảnh Thâm là em của Lê cảnh Xuân, tự là Năm
Đen, Thiếu Tá Quân báo của VC (c̣n gọi là cụm t́nh
báo chiến lược). Thâm đă được móc
nối từ khi c̣n là Hạ sĩ trong quân đội VNCH,
sau đó chúng đă dùng đủ mọi cách kể cả
tiền bạc để mua chuộc và đưa Thâm vào
học trường Hạ Sĩ Quan, rồi đưa Thâm
vào hoạt động nằm vùng trong một đảng
phái chính trị. Năm 1966 đảng này có công trong vụ
biến loạn miền Trung, nên đă có một số
điều kiện giữa chính phủ và đảng. Trong
dịp đó đảng đă đề cử Lê Cảnh
Thâm làm trưởng ty Cảnh Sát Quảng Trị.
Đến lúc đó cơ quan t́nh báo chiến lược
vẫn chưa xử dụng con bài Lê Cảnh Thâm. Mùa hè
đỏ lửa năm 1972, tôi không biết bằng cách nào
Lê Cảnh Thâm lại vào nằm trong Trung Tâm Hành Quân của
Bộ Tư Lệnh tiền phương Quân Đoàn I
đóng tại Mang Cá, Huế.
Anh c̣n nhớ, tôi đă nói
với anh là năm 1972 tôi bắt được tên Trung tá
Hoàng Kim Loan của cụm t́nh báo chiến lược. Do
khai báo của Loan tôi mới biết được Lê
Cảnh Thâm là cán bộ nằm vùng của VC. Phải
bắt Lê Cảnh Thâm ngay v́ y đang hoạt động tại
Trung tâm Hành quân của Bộ Tư lệnh Quân đoàn.
Kế hoạch hành quân sẽ bị tiết lộ.
Sau khi đă có đủ các
dữ kiện, tôi cùng với Th/Tá Cố vấn Mỹ vào
gặp Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Người
Trung tá Chánh văn pḥng của tướng Trưởng
nhất định không cho vào, bắt tôi phải theo
hệ thống quân giai: "Tŕnh cho Đại Tá Tỉnh
Trưởng rồi Tỉnh Trưởng sẽ tŕnh cho
Tư Lệnh". Tôi bảo rằng đây là chuyện
Mật và Khẩn, tôi phải đích thân tŕnh Trung
Tướng. Chánh văn pḥng quá nguyên tắc, nhất
định không cho tôi vào. Th/Tá cố vấn của tôi quá
bực ḿnh, nói với ông chánh văn pḥng: "Đây là
giờ phút mất hay c̣n của thành phố Huế, anh không
cho Th/Tá Liên Thành vào gặp tướng Trưởng th́
phải chịu trách nhiệm, tôi sẽ đưa Th/Tá Thành
đến gặp Trung tướng cố vấn của
tướng Trưởng và Trung tướng cố vấn
sẽ cùng với Th/Tá Thành đến gặp tướng
Trưởng." Lúc đó ông ta mới chịu cho tôi vào,
nhưng nhất định không cho người cố
vấn Mỹ vào theo tôi. Người cố vấn bực
ḿnh bảo: " I don' t care, this is your country, not mine"
Tôi
vào gặp tướng Trưởng và tŕnh cho ông tất
cả lời khai của Hoàng Kim Loan, sau khi nghe xong lời
khai tướng Trưởng
hoảng hồn, ông hỏi tôi:
-
Tên này bây giờ đang ở đâu?
-
Tŕnh Trung tướng, nó đang ở bên cạnh ông,
đang làm sĩ quan hành quân của Bộ Tư Lệnh
Tiền Phương.
-
Cho bắt ngay. Tướng Trưởng bảo.
Tôi
tŕnh là nếu bắt th́ sẽ lộ tất cả
những cơ sở của chúng, mà ta chưa bắt và
chưa phát giác đang nằm trong hàng ngũ quân đội
của ta, chúng sẽ chạy trốn hết. Tướng
Trưởng hỏi tôi:
- Bây giờ phải bắt
cách nào cho khỏi bị lộ?
- Xin Trung tướng liên
lạc với Thiếu tướng Lê khắc B́nh Tư
lệnh Cảnh Sát và xin tướng B́nh cho lệnh xin
biệt phái Lê Cảnh Thâm trở về lại Cảnh Sát
để được bổ nhiệm đi làm
trưởng ty.
Tướng Trưởng
thấy đề nghị của tôi hợp lư nên gọi
điện thoại nói chuyện với tướng B́nh
ngay, sau đó đưa điện thoại cho tôi nói
chuyện với tướng B́nh. Tướng B́nh chấp
thuận đề nghị của tôi và ra lệnh bắt
ngay tên Lê Cảnh Thâm. Chờ đợi trong văn pḥng
tướng Trưởng khoảng nửa giờ th́ có công
điện từ Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc
Gia, bổ nhiệm Lê Cảnh Thâm làm Trưởng Ty
Cảnh Sát Pleiku và tôi có nhiệm vụ cấp phương
tiện di chuyển cho Thâm đi đáo nhậm nhiệm
sở mới ngay.
Khi Lê Cảnh Thâm nhận
được lệnh bổ nhiệm th́ qua tŕnh diện
trung tướng và cùng tôi ra xe đi ngay. Ngồi trên xe tôi,
anh ta sung sướng nói chuyện huyên thuyên. Một lúc sau
tôi bảo:
- Anh Thâm, tôi nói thật với
anh là anh đă bị bắt. Mọi chuyện anh làm chúng tôi
đă biết tất cả, anh cũng đă ở trong
ngành Cảnh Sát th́ anh đă rơ, tôi không c̣n cách ǵ giúp anh,
ngoại trừ anh hợp tác với chúng tôi.
Lúc đầu anh ta chối,
nhất định là không nhận cán bộ VC nằm vùng.
Tôi bảo:
- Anh chối cũng vô ích v́ cán
bộ điều khiển của anh hiện đang
nằm trong tay tôi.
Anh ta không tin, tôi đưa anh
ta đến ngay cơ sở mà tôi đang giam giữ Hoàng
Kim Loan, cho anh ta nh́n thấy tên Loan, cán bộ điều
khiển của anh ta, lúc đó anh ta mới hết
đường chối.
Tôi chỉ điều tra Lê
Cảnh Thâm được khoảng hai giờ th́ có công
điện từ Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát bảo
phải giao tên Thâm cho cơ quan thẩm vấn quốc gia.
Khi nhận được lời khai của Thâm, tôi
đến ngay cơ sở của chúng ở gần
cửa Đông Ba, bắt ngay Thiếu Tá Khuê làm quân bưu chính
của Tiểu Khu, là cơ sở quân báo của Thâm. Kế
bên nhà của Khuê là tiệm thuốc bắc, chủ
tiệm là một người trông rất hiền lành
đạo mạo, tôi lục soát khắp nhà của y và t́m
được một máy truyền tin, đây là một
loại máy chuyển tin ra Bắc vô cùng tối tân (thời
điểm năm 1972). Khi muốn chuyển tin, chỉ
cần đọc bản tin vào cuộn băng xong bấm
một cái là bản tin được chuyển đi ngay,
nơi nhận sẽ giải mă. Tên cán bộ đóng vai
thầy thuốc bắc này cấp bậc Thiếu tá,
phụ tá của Hoàng Kim Loan.
Sau đó tôi phát giác
được tên tùy phái của Đại tá Lê văn Thân,
tỉnh trưởng Thừa Thiên cũng là người
của Hoàng Kim Loan. Khi đến bắt tên này th́
Đại tá Thân bảo tôi:
- Sao anh bắt thằng này,
thằng này nó hiền lắm mà.
- Thằng này nó giết
Đại tá đó, Đại tá có biết không? Tôi nói.
Tên tùy phái đă chụp h́nh
tất cả tài liệu của hành chánh và quân đội
mà các pḥng, ban tŕnh lên tỉnh trưởng.
Theo lời khai của Hoàng Kim
Loan, tôi đă bắt được rất nhiều cơ
cở t́nh báo nằm vùng của chúng, nếu không phá vỡ
kịp thời th́ Huế đă bị tấn công như
hồi Tết Mậu Thân năm 1968.
Thiên
Nga: Cám ơn anh Thành đă
cho biết những chi tiết về t́nh báo thật là
hấp dẫn. Tôi rất muốn biết làm thế nào mà
anh bắt được tên trung tá Hoàng Kim Loan.
Th/Tá
Liên Thành: Câu chuyện đó dài lắm, nếu có dịp
tôi sẽ kể cho anh, c̣n chuyện Mậu Thân thế là
tạm đủ phải không anh, lâu quá rồi cũng không
nhớ được nhiều chi tiết, hy vọng
cuộc nói chuyện của chúng ta hôm nay không phí thớ
giờ của anh.
Thiên
Nga: Rất là hấp dẫn, cám ơn anh rất
nhiều. Hẹn gặp anh lần tới.
Mậu
Thân,
nỗi
đau không dứt của Huế
Lê Hàn Sinh
Trong báo Thể Thao Việt Nam số ra ngày
12-12-2002, ban Tư tưởng - Văn hoá trung ương
CSVN đă ra lệnh tổ chức ŕnh rang "kỷ
niệm 73 năm ngày thành lập đảng Cộng
sản Việt Nam (3/2/1930-2003) vào đúng ngày 3 Tết Nguyên
đán Quư Mùi 2003, và kỷ niệm 35 năm cuộc Tổng
tấn công, nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968".
Để kỷ niệm "35 năm cuộc
Tổng tấn công, nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968",
chúng tôi xin đăng tải dưới đây bài
"Mậu Thân, Nỗi đau không dứt của
Huế" của Lê Hàn Sinh để tố cáo
trước thế giới sự dă man và tàn ác của
đảng CSVN, để cho người Việt từ
Bắc chí Nam, trong cũng như ngoài nước nh́n
thấy rơ "cuộc nổi dậy Xuân Mậu Thân
1968" chỉ là một cuộc chiến xâm lăng do chính
đảng CSVN chủ động chứ không hề
được sự hưởng ứng của đồng
bào miền Nam.
Với người dân Huế, khi nhắc
đến hai chữ Mậu Thân, gần như nó không c̣n
gắn liền theo thứ tự của mười hai con
giáp, mà là một tiếng gọi đặc biệt,
tượng trưng cho một cuộc tàn sát man rợ.
Thủ tiêu, ám sát, chôn sống,
giết người bằng mă tấu, bằng bọng
cuốc phang vào hậu đầu, trói bằng dây thép gai.
Cụ thể là ở khu phố 4 Gia Hội (sau khi
chiếm Huế, Cộng sản chia thành phố ra làm bốn
khu) với tên thợ nề vô học tên Bé được
giữ chức chủ tịch khu phố. Mọi sinh sát
nằm trong tay y. Ước lượng nạn nhân của
bọn này lên tới hàng trăm. V́ tư thù cá nhân, chúng
giết cả những thường dân vô tội.
Cái chết của bà Trâm ở
đường Mạc Đĩnh Chi (đường Ngự
Viên) là một thí dụ. Bà bị thị Gái bắn bằng
súng AK ngay tại nhà. Gái nguyên là Việt cộng nằm vùng
chuyên đi giúp việc quanh các nhà ở phường Phú Cát,
quận 2. Tuy là đi giúp việc nhưng lúc nào áo quần
cũng bảnh bao, tóc búi kiểu Lào. Gái v́ dây dưa với
chồng bà Trâm nên bị bà này mắng chửi thậm
tệ và h́nh như cũng có đánh đập ǵ đó nên
giờ Gái trả thù món nợ t́nh ngày trước.
Cũng cần nói thêm về
tên Bé thợ nề. Không ai biết xuất xứ của
hắn. Y hành nghề một cách độc lập, rất
lương tâm ; làm từ 7 giờ sáng tới 6 giờ
chiều, không nghỉ trưa, ăn uống thế nào
cũng được, tiền công không đ̣i cao hơn
kẻ khác. Do vậy, người này làm xong lại giới
thiệu cho bạn bè. Cứ thế mà Bé âm thầm
điều tra nắm rơ ai làm ǵ ở đâu, cơ quan
nào... để báo cáo cho tổ chức. Nhờ thế, khi
Việt cộng vào là chúng đă có một danh sách khá
đủ thành phần mà chúng cho là quan trọng để
thanh toán ngay sáng mùng một tết, không cần phải
gọi ra tŕnh diện tại trường Gia Hội.
Người đi bắt và
bắn chết không ai khác hơn tên Linh, người
Quảng Ngăi làm nghề thầy bói, khoác áo Việt Nam
Quốc Dân Đảng Thừa Thiên. Thời gian bầu cử
tổng thống, lúc ông Vũ Hồng Khanh về Huế
vận động, chính y là người ngồi cùng xe bên
cạnh ông Khanh. Nghe đâu y cũng là cộng tác viên cho
cảnh sát đặc biệt Thừa Thiên. Sáng mùng một
hắn bận complet màu đà (bộ hắn vẫn
thường mặc) tới nhà t́m tôi nhưng không gặp.
Cho tới nay tôi vẫn không
hiểu tại sao mà ông Rớt (có bà vợ bán bún ḅ ngon
nhất Huế) ở trên đường Nguyễn Du
lại bị bọn Linh bắn chết. (Người chung
quanh nghi ông làm cộng tác viên cho cảnh sát và nghe đâu ông
xin được chết gần gia đ́nh nên chúng bắn
ông tại nhà).
Măi cho đến ngày 20 tháng
giêng bọn chúng mới bắt đầu làm mạnh,
nghĩa là ra lệnh tŕnh diện lần hai rồi giữ
lại thủ tiêu luôn.
Trên đường Gia Hội
(tức đường Chi Lăng), bọn chúng bắt
giết anh Lê Văn Cư, nguyên là Phó giám đốc
cảnh sát quốc gia vùng I và anh Phú (em vợ anh Cư),
quận trưởng quận hai. Cả hai bị bắn
cùng một lần. Cũng trên đường này anh Dự
h́nh như đang làm trưởng ty cảnh sát Phan Rang
về thăm nhà cũng bị bắt giết. Vơ Nguyên Pha,
nhà ở ngay sau lưng chùa Diệu Đế, nghe đâu đă
trốn sang hữu ngạn rồi lại sốt ruột
v́ vợ con trở về để lănh bản án tử
h́nh.
Câu chuyện cái chết
của anh Từ Tôn Kháng, thiếu tá Tỉnh đoàn
trưởng Xây dựng Nông thôn Thừa Thiên, không biết
thực hư đến mức nào. Nghe đâu CS bao vây nhà
anh, tra khảo bắt chị Kháng chỉ chỗ ẩn
của chồng nếu không th́ phải chết. Anh Kháng
nằm núp trên máng nước, đành phải xuống (có
người bảo chị đă chỉ chỗ ẩn
của chồng. Hoàn cảnh này dù có xảy ra th́ tôi nghĩ
cũng không nên buộc tội chị).
Ở đường Vơ Tánh,
có anh Vĩnh sĩ quan cảnh sát bị bắn chết ngay
nhà, mấy năm sau tôi vẫn thấy ngôi mộ
đất vẫn c̣n nằm ngay trước cổng nhà.
Nhà anh Vĩnh nằm ngay cạnh chùa Áo Vàng, nơi cộng
sản làm trụ sở tŕnh diện cho các công viên chức
và sĩ quan quân đội cộng ḥa, nên không trốn vào
đâu được. Gần đó có anh Hồ Đắc Cam,
làm công nhân nhà đèn Huế, bị bắn v́ có tên trong
Đại Việt Quốc Dân Đảng. Điều đáng buồn
là anh Cam bị anh Kim Phát, cũng đảng viên Đại
Việt, khai ra. Cộng sản biết Kim Phát là
người Đại Việt nên bắt anh phải khai
những người trong tổ chức. Anh đến nhà
tôi đầu tiên nhưng tôi không có ở nhà. Sau đó Kim
Phát cũng chịu chung số phận như bạn bè.
Đường Bạch Đằng
có anh Hiền, một lăo tướng bóng đá trong hội
S.E.P.H của Huế thời thập niên 40. Anh chẳng liên
hệ ǵ tới chính quyền thế mà bị giết.
Người ta đoán anh bị bắn v́ trước
đó đă tạt tai một thằng bé gần nhà. Tên này
sau khi cộng sản vào tham gia thanh niên khu phố nên có
dịp trả thù.
Không ít người chết v́
không hiểu CS, tưởng cộng tác với chúng là
được tha. Điển h́nh là ông Soạn làm chủ
tịch phường Phú Cát quận 2 và hai anh em song sanh tên
Lan (con ông Sâm cho mượn đồ đưa đám tang
trên đường Chi Lăng) ; một trong hai
người này làm cảnh sát.
Theo nằm vùng cộng sản
nhận định, nhóm tiểu thương chợ Đông Ba
là lực lượng yểm trợ mạnh nhất trong
cuộc đấu tranh Phật giáo ở Huế vào các
năm 1963 và 1966. V́ thế để lấy ḷng nhóm này,
chúng lôi anh Phú ra giết. Anh Phú có phần hùn đấu
thuế chợ Đông Ba nên vẫn hay ra thu thuế bạn
hàng. Tưởng thế, nhưng cái chết của Phú
chẳng gây phản ứng nào nơi nhóm tiểu
thương.
Cho đến giờ này, 30
năm trôi qua, tôi vẫn không quên h́nh ảnh đầy
thương cảm của Nguyễn Ngọc Lộ và
Nguyễn Thiết. Hai anh bị chôn sống ngay con
đường nhỏ rẽ vào trường trung học
Gia Hội sau khi cả hai anh bị đánh bằng bọng
cuốc vào sau đầu. Lúc bới xác hai anh, tôi có mặt
và thấy hai chiếc sọ bị lủng lỗ phía sau.
Mà đâu chỉ giết hai anh. Chị Lộ và h́nh như
với ba cháu hai gái một trai cũng bị giết
tại nhà ở xă Phú Lưu. Thật may mắn, qua ḍ la tôi
biết một đứa con trai của anh chị c̣n
sống sót, hiện đang có máy bơm nước vào
ruộng cho thuê để lấy tiền sinh nhai. Anh
chị Lộ và anh Thiết chết là v́ nghề dạy vơ
thất sơn thần quyền mà Cộng sản cho là
một bộ phận ngoại vi của Đại Việt
Quốc Dân Đảng Thừa Thiên và Thị bộ Huế. Sau
thời gian cải tạo về, tôi có ḍ la tông tích
thằng con sống sót của anh chị Lộ để
nhờ cháu chỉ hộ nơi an nghỉ của bố
mẹ và bác Thiết. Khi cải táng tại mé sông phía Băi Dâu,
chính tôi có mặt và bỏ đất xuống quan tài.
Nhưng v́ thời gian và tuổi tác khiến tôi không nhớ
được địa điểm xưa nữa. Và ư
nguyện đó tới nay vẫn chưa thực hiện
được.
Tôi không thể quên
được Mậu Thân, v́ biết bao bạn bè
đồng đội thân thương đă đau
đớn ĺa đời với không một mảnh gỗ
che thân, không một giọt nước mắt tiếc
thương, không một nén hương phân ưu
tưởng niệm, không một mảnh vải quấn
lên đầu người thân. Riêng hai anh Lộ và Thiết
có với tôi một liên hệ thiết thân hơn t́nh huynh
đệ ruột thịt. Tôi không cùng trong một tổ
chức và không phải là đệ tử của môn phái
Thất Sơn Thần Quyền của hai anh. Tôi biết
hai anh trong một lần gặp gỡ để thực
một phóng sự về môn phái vơ quyền khi tôi làm
nghề viết báo. Anh Lộ đă tỏ ra rất chơn
chất đôn hậu, mặc dầu anh rất nổi
tiếng với hàng ngàn đệ tử, trong đó có
cả những sĩ quan cấp tá quân lực cộng ḥa
xin đầu sư. Thế mà anh không hề kiêu căng
cũng không chút đề cao cái tôi thành công của ḿnh. Tôi
có cảm t́nh với anh từ độ ấy.
Một ray rứt ám ảnh tôi
măi. Sáng mùng một, khi biết được cộng
sản đột nhập thành phố, tôi liền nhảy
sang căn lầu của người hàng xóm, chỉ cách nhà
tôi một bức thành mỏng. Nh́n xuống, tôi thấy hai
anh em Lộ bận complet màu đen, bộ đồ
vẫn mặc khi đến thăm tôi dịp tết.
Nhưng lúc đó ai dám tin ai ! Tôi nghe Lộ hỏi
vợ tôi: "Anh đi đâu rồi? VC d́a thành phố tràn
vào cả rồi. Nói với anh t́m cách trốn cho kỹ
chứ bắt được anh là rồi đời
đó nhe chị". Rồi cả hai leo lên xe Honda (hay
Yamaha) chạy xuống phía cầu Đông Ba. Bỗng một
loạt đạn AK rít lên. Tôi tưởng hai anh đă
đi rồi.
Sau một sáng lẩn trốn
trở về mới nghe hàng xóm kể lại loạt
đạn đó không gây hề hấn ǵ cho hai anh cả.
Song không hiểu sao hai anh đă lọt vào Gia Hội và
trở thành nạn nhân của cộng sản lúc đó
đang ra công lùng bắt người ở vùng này.
Thật vô phúc cho anh Trần
Văn Nớp, trưởng pḥng hành chánh ty cảnh sát
Thừa Thiên. Sau bao nhiêu ngày ẩn núp dưới hầm
ở đường Bạch Đằng phía dưới
cầu Đông Ba, quá nôn nóng và tưởng cộng sản
đă rút nên trồi lên để bị giết tức
tưởi. Số là giờ phút chót cộng sản
phải nấn ná án ngự khu vực này để bộ
đội chúng rút về phía Tiên Nộn. Trễ chừng
vài phút nữa th́ anh Nớp đâu đến nỗi !
Bên hẻm cầu Đông Ba th́ có
anh Chảy, một thanh niên nghe đâu vừa ra
trường Thủ Đức, phải chết v́ thiếu
kinh nghiệm về cộng sản. Khi có lệnh gọi
những người đă tŕnh diện lần hai ra tŕnh
diện lần ba ở trường trung học Gia Hội
th́ Chảy đang đi cầu. Mọi người đi
tŕnh diện đă đi qua nhà anh khá lâu, thế mà Chảy
đi cầu xong lại vừa chạy vừa cài nút
quần gọi mọi người đợi anh với.
Và thế là Chảy đi luôn ! Anh để lại
một người yêu đă bỏ trầu đợi ra
năm cưới. Anh Chảy là con trai độc nhất
của chú Bang In, chủ nhân tiệp chụp ảnh tiếng
tăm ở Huế thời 1940-1950, và cũng là chủ nhân
tiệm ăn Quốc Tế Huế.
Không xa nhà anh Chảy là nhà anh
Lô, gần 50 tuổi, người Tàu Hải Nam sinh tại
Huế, anh rể của Chảy, làm phát ngân viên Ty Ngân
Khố. Một người hiền lành, thật thà chân
chất, cả đời không biết súng đạn mà
vẫn bị giết oan khuất.
Trên đường Vơ Tánh,
từ quán bánh khoái nổi tiếng Huế đi xuống
một đoạn chừng 5,7 chục thước,
Việt cộng lại bắt được anh Jean
Kỳ, đảng viên lăo thành một hệ phái Quốc Dân
Đảng. Anh Kỳ có lối sống nghệ sĩ, ngang
bướng không sợ ai. Năm 1946 không biết làm sao mà
thoát được vụ cộng sản tàn sát hàng trăm
thanh niên trí thức ở các làng vùng Sịa. Nhưng lần
này th́ không thoát nữa. Ḍng họ anh ở làng Quảng
Điền nổi tiếng chống cộng. Anh Kỳ có
một người em ruột làm trung tá hiện ở
Mỹ.
Tại đ́nh làng Thế
Lại, nằm cuối đường Bạch Đằng,
anh Vĩnh, nhân viên cảnh sát Thừa Thiên, bị bắn.
Một cảnh sát hành chánh khác, anh Thiện ở
đường Nguyễn Du, cũng bị bắn.
Trong Thành Nội, cộng
sản bắt được anh Liên, sĩ quan cảnh sát
đă từng giữ chức Trưởng Ty Cảnh Sát
Quảng Trị và là một đảng viên Đại
Việt. Bảy năm sau, nhờ có người
địa phương chỉ, chị Liên ṃ mẫm t́m
được xác chồng chôn chồng với chín bạn
khác ở chân núi.
Tễ là một người
bạn đồng nghiệp vui tính sống bất cần
đời, đă từng giữ chức trưởng pḥng
hành chính Ty Cảnh Sát Thừa Thiên cũng bị bắn. Nhà
anh ở trong cửa An Ḥa hay Chánh Tây ǵ đó. Việt
cộng bắt anh ban đêm, đem bắn bỏ xác
vắt ngang đường rầy xe lửa phía trên
đường Thống Nhất. Sau mấy ngày vất
vả vợ con t́m thấy xác đem về chôn cất.
Ngược lên
đường Cường Để, tôi lại mất
đi một bạn đồng nghiệp rất ư
hiền từ mẫu mực, anh Vơ Văn Tửu. Anh
Tửu làm phó thẩm sát viên cảnh sát và được
giữ chức đồn trưởng đồn ga
Huế. Anh cũng là một đảng viên Đại Việt
nhiệt thành. Anh bị bắn cạnh nhà vào khoảng mùng
mười tết. Mấy ngày trước tết tôi và anh
c̣n nhâm nhi cà phê ở vỉa hè ga Huế. Nào ngờ lần
gặp đó là lần cuối.
Một người bạn
khác ở Thôn Vỹ là Tiên, sĩ quan cảnh sát ngày
trước phục vụ trong ngành hiến binh, cũng
bị hành quyết. Tôi tưởng anh thoát, v́ nhà anh ở
gần Đập Đá, chỉ cần ra phía sau nhà lao xuống
sông lặn một hơi là thoát vùng tạm chiếm !
Trần Mậu Tư,
người con trai (có lẽ duy nhất) của ông Trần
Mậu Trinh, nguyên tri phủ ở miền ngoài và là
người nổi tiếng diệt cộng sản
thời kỳ Nghệ Tỉnh nổi dậy, bị cộng
sản t́m bắt v́ món nợ của cha đem chôn sống
ở làng Ḥa Đa cùng với một số người khác.
Nhà vợ con của Kỷ ở ḷ trâu Hô Lâu phía bên kia
Đập Đá.
Ngoài ra có anh Thương,
tốt nghiệp quốc gia hành chánh, cố thoát chạy
bằng xe Honda từ nhà anh trên đường Lư
Thường Kiệt về trung tâm quận 3, nhưng đă
bị bắn gục trên đường.
Và c̣n bác Trần Điền,
đă một thời làm tỉnh trưởng Quảng
Trị, sau đó làm Thượng nghị sĩ và là
đảng viên Đại Việt, bị bắt tại ga
gần trường Thiên Hữu, sau đó bị bắt
đi với số đông người khác. H́nh như
tất cả chấm dứt cuộc đời ở Khe
Đá Mài.
Trong biến cố Mậu Thân
nơi vùng Băi Dâu đă xảy ra một câu chuyện hi
hữu. Hai thằng bạn học cùng lớp là Hân và
Bằng. Bằng v́ bất măn quốc gia quay ra vùng xôi
đậu. Mậu Thân, Bằng trở về với tư
cách là một bộ đội trong tỉnh đội
Thừa Thiên. Hân ở nhà tham gia Đại Việt. Không
biết bị tên nằm vùng nào chỉ điểm mà Hân
bị bắt ngay mùng một. Hân được giao cho
một bộ đội đem đi bắn, mà
người đó không ai khác hơn là Bằng. Hân những
tưởng có hy vọng thoát thân nhờ vào t́nh bằng
hữu của Bằng. Nhưng không, Bằng thi hành
mệnh lệnh Đảng một cách nhẹ nhàng.
Trước khi bắn hắn nói với Hân : "Tao
không làm chi khác hơn là phải bắn mi. Tuy nhiên tao sẽ
cho mi một cái bao nilông và tao sẽ bọc cái mặt mi
lại để sau này gia đ́nh mi dễ nhận ra mi.
T́nh bạn bè thân thiết chỉ có thế thôi" !
Tôi tuổi già, trí nhớ
lại nhạt nḥa đi sau bao năm tù đày nên giờ chỉ
c̣n nhớ được dăm ba người thân cận
trong số trên dưới 3000 nạn nhân đă nằm
xuống một cách oan nghiệt. Chắc phải có một
lần về lại thăm nơi cố xứ đau
thương này để thắp trên những ngôi mộ
của những người bạn một nén hương.
Tôi hy vọng trong cơi chết linh thiêng các bạn bè cũng
thấu hiểu và thông cảm cho sự kém trí nhớ
của tôi. Tôi cũng xin cầu nguyện Trời Phật
gia hộ cho các vong linh những người quá cố hăy
quên đi nỗi nhân t́nh thế thái, để an nghỉ
ngàn thu.
(LMVNTD - 10-01-2003)
Cố Đô
Kinh Hoàng
Elje Vannema
Mới
sáng tinh sương đă thấy quân Mặt Trận
(Giải Phóng Miền Nam) hiện diện trong thành phố.
Họ là những người lo mặt chính trị trong
cuộc chiếm cứ. Ngày hôm trước, họ vào
sổ gần hết mọi người, ghi tên, tuổi,
phái tính. Họ quan tâm đặc biệt đối với
phái nam, chia những người này ra thành nhiều nhóm: công
chức, những người có liên hệ với quân
đội cộng ḥa, và những kẻ khác. Nhiều
trường hợp họ ghi chú đầy đủ
cả gia đ́nh, cả tên con cái nữa. Mỗi nhóm họ
chỉ định một người đại diện,
mang trách nhiệm mọi mặt về tất cả thành
viên trong nhóm. Nếu có người thoát th́ người
đại diện phải lănh đủ. Dân chúng
được lệnh không tụ họp đông người,
trừ khi được kêu đi dự mít tinh, không
được nghe đài, không được phao tin
đồn đăi...
Ngày
hôm sau, du kích và nằm vùng địa phương tỏa ra
đi t́m những người có tên trong danh sách viết tay
nguệch ngoạc. Họ được đưa về
Tiểu chủng viện, nơi dựng ṭa án nhân dân.
Một anh cựu sinh viên chủ tọa phiên ṭa với
sự hiện diện của một người Bắc
Việt và hai sinh viên khác. Hai sinh viên này chúng tôi biết...
Các
phiên ṭa nhân dân mấy ngày trước đă chấm
dứt. Dân chúng hiện diện khá đông tại các phiên
ṭa ở Tiểu chủng viện, ở Gia Hội bên kia
cầu và ở trong thành. Ṭa án ở Tiểu chủng
viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tŕ. Anh
này tốt nghiệp đại học Huế và là cựu
lănh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính
quyền trước đây. Cầm đầu ở Gia
Hội là Nguyễn Đắc Xuân, trước kia là một
liên lạc viên cộng sản nay đột nhiên lại
xuất hiện. Ṭa trong thành do hai sinh viên Nguyễn Đọc
và Nguyễn Thị Đoan điều khiển. Các phiên ṭa vang
lên những lời đe dọa với khẩu hiệu
tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết
những người bị lôi ra ṭa chẳng biết lư do
ḿnh bị bắt. Nhưng tất cả đều bị
kết tội, một số bị tử h́nh tức
khắc.
Sau
hai ngày phiên ṭa kết thúc, nhường chỗ cho những
công tác khủng bố dân chúng khác. Một người
trộm mở nghe đài (radio) bị bắn giữa thanh
thiên bạch nhật để làm gương. Một anh
sinh viên không tới dự lớp học tập cũng
bị bắn công khai. Nguyễn Đọc bắn nhiều
người trong đó có người bạn thân
đồng lớp là Mu Ty, chỉ v́ bạn không chịu
hợp tác với y. Bước vào ngày thứ hai bắt
đầu kiểm soát lương thực, thực phẩm.
Ngày thứ bốn, v́ không tuân hành lệnh cách mạng,
một gia đ́nh bị xử. Người chủ gia
đ́nh bị bắn tức khắc. Dưới áp lực
khủng bố gia tăng, nhiều người bỏ
trốn, nhưng ít kẻ thoát. Vùng Gia Hội có nhiều
người thoát hơn nhờ ban đêm chèo bè qua sông sang
làng Đập Đá. Thường bị bắn theo nhưng
cố chèo.
Những
người nằm vùng xuất đầu lộ diện,
ra tay truy lùng nạn nhân. Bộ đội Bắc Việt
và quân chính quy Mặt Trận lo chuyện quân sự và
chiến lược. Nằm vùng địa phương lo
việc chính trị, hành chính, b́nh định, tuyên
truyền, và tiêu diệt kẻ thù. Đám này bắt và giết
người bất kể, nhiều khi chỉ v́ hiềm
thù cá nhân. Cán bộ miền Bắc có mặt ở ṭa án nhân
dân xem ra ít nắm vững chuyện chính trị và đóng
vai tṛ ít quan trọng trong các bản án. Địa phương
quyết định mọi chuyện. Trước khi lên
danh sách, thường đám nằm vùng đă quyết
định bắt ai rồi. Chỉ c̣n việc ra lệnh
thanh toán những ai họ nhắm nữa mà thôi. Có lẽ
họ lư luận rằng, thà giết lầm hơn bỏ
sót, v́ bỏ sót th́ sau này ḿnh sẽ bị nhận diện.
Một cách hệ thống, công chức, quân nhân, sinh viên có
tinh thần quốc gia, có khả năng lănh đạo và
có thể gây trở ngại cho cách mạng, chính trị gia
đối lập, tất thảy đều
được đoái hoài. Danh sách bất tận.
Dân
chúng tập trung ở nhà thờ chính ṭa được
lệnh vào bên trong, không ai được đứng bên
ngoài. Phụ nữ và trẻ con được lệnh
ngồi xuống. Đàn ông và thiếu niên từ 15 tuổi
trở lên đứng. Ở bệnh viện, tṛ
tương tự cũng đă diễn ra. Dân quanh vùng,
đặc biệt là vùng quanh căn cứ Mỹ,
được lệnh tập trung vào bệnh viện v́
cộng sản sợ giao tranh có thể xảy ra ở
đó. Dân lúc này c̣n sợ súng máy và hỏa tiễn trực
thăng hơn quân chiếm đóng nên ngoan ngoăn làm theo
lệnh. Sau ba ngày, đàn bà con nít được lệnh
ngồi, đàn ông đứng dậy để hai tên
nằm vùng nhận diện, trước mặt hai cán
bộ miền Bắc và hai bộ đội Mặt
Trận. Hai người nằm vùng này mới
được xổ tù khi Việt cộng chiếm thành
phố. Cả hai đều là thành viên kỳ cựu
của Mặt Trận. Một số người, trẻ
có già có, được cấp thẻ và dẫn về nhà
thờ chính ṭa.
Bên
trong nhà thờ đàn ông và thiếu niên được
lệnh sắp thành hàng rồi bước ra ngoài với
cán bộ hộ tống. Từ nhà thờ họ băng qua
các đường Phủ Cam lên Chùa Từ Đàm. Bị
giữ ở đấy một ngày rồi lại tiếp
tục đi về phía Nam, hướng Nam Giao. Đàn bà
trẻ con nhao lên nhưng được trấn an rằng
cha, chồng, con họ phải ra phục dịch bên ngoài
thành. Một số bà đi theo xa xa, nhưng rồi bị
chặn lại. Trong số người ra đi có anh lính
trẻ cộng ḥa và Lương (nhân vật kể lại
câu chuyện này). Ngày kế tiếp, cuộc hành tŕnh kéo dài
suốt chiều tới tối, thoạt tiên rời Từ
Đàm đi về hướng Nam rồi bẻ hướng
Đông Nam. Sáu cây số đường đi mà Lương
nghĩ là một cuộc trường chinh. Không ai nói
với ai. Chỉ một lần yên lặng bị cắt đứt
bởi một câu hỏi của ai đó "Ta đi mô
đây". Có tiếng phụ họa "Lên núi hay tới
chỗ chết?".
Bộ
đội Mặt Trận nói là họ được
đưa đi học tập. Không ai biết ḿnh đi
đâu nhưng tự thâm tâm nhiều người tin
rằng có lẽ đời ḿnh sắp kết thúc. Ông già
đi bên cạnh Lương bỗng ngă quỵ. Cho tới
lúc đó anh không biết có ông già đi bên ḿnh. "Bắt
gió cho ông ta " tiếng ai đó vang lên... Lương ôm
lấy ông cho tới khi người canh gác tới. Mắt
ông già hé mở trong chiều xẩm tối. Tiếng nói
lạc giọng thều thào. "Xin để tui đi,
để tui ở lại đây", ông van xin, bàn tay
xương xẩu níu lấy cánh tay người gác.
"Tui không đi xa hơn được nữa".
"Đứng dậy".
Ông
già gượng dậy, cố thẳng người thêm
được vài bước rồi lại ngă.
Người gác đoàn lúc này hết kiên nhẫn,
đạp ông ra lề đường rồi bỏ đi.
Vài phút sau, một phát súng xé không khí cùng với một
tiếng kêu yếu ớt vang lên. Làm thế để
chắc ăn, không ai chứng kiến. Xác ông
được dập vào một hố gần đó, hai tù
nhân được lệnh lấp đất. Một tháng
sau xác ông được đồng bào khám phá.
Vô
vọng, đoàn người bước đi càng lúc càng
chậm, câm lặng uất nén. Người gác càng hối
thúc. Rồi có tiếng hô "Dừng lại".
Lương thấy đám người phía trước
được lệnh bỏ túi xách xuống và ngồi
xuống. Họ đă tới đích. Đám canh gác phía sau
miệng hét thúc kẻ này đi nhanh, chân đá vào
sườn kẻ khác... Sau này, Lương nhớ lại
ḿnh đă đi qua thôn Tu Tay. Theo anh, chừng 18 người
đă bị kêu lên phía trước và bị quân Mặt
Trận tố có tội ác với nhân dân. Các nạn nhân
bị lôi đi ngay. Chả ai biết ǵ về số
phận họ v́ chẳng bao giờ gặp lại họ
nữa. Những người khác được lệnh
đi về phía lăng Đồng Khánh.
Sau
một giờ đi họ lại được lệnh
dừng, chia thành hai nhóm nhỏ và bắt đầu
được lệnh đào hầm rănh. Họ đào
mồ cho lớp người tới sau, chứ chính họ
th́ chỉ vài mạng phải nằm ở đây mà thôi.
Như một ác mộng kinh hoàng thăm viếng
địa cầu, nhưng ác mộng không do quỷ ma nào
cả mà do chính con người tạo ra.
Thoạt
tiên, Lương nghĩ chắc ḿnh sẽ không qua khỏi.
Dù vậy, anh và người lính trẻ vẫn cố t́m
cách thoát thân, trong một hoàn cảnh có thể nói là
tuyệt vọng. Hai người thất thần nh́n nhau,
mắt mở lớn. Chung quanh Lương, đám
người đói, lạnh, có kẻ đau, không ai dám quay
về nh́n thành phố thân yêu đổ nát đang ch́m trong
bóng tối sau lưng họ. Họ đào đă hai, ba
tiếng, ai nấy im lặng gặm nhấm suy nghĩ
của ḿnh. Hố đào là để trú ẩn và làm
mương dẫn nước, người ta nói thế.
Một tiếng nổ kèm với tiếng la vang lên.
Thần chết vây bủa không gian. Tại sao ḿnh ở
đây?
Đa
số họ là công giáo, chả ai quan tâm tới chính
trị, một số do hoàn cảnh lịch sử phải
bước vào lính như bao nhiêu thanh niên Việt Nam và trên
khắp thế giới đến tuổi khác.
Sau
khi đào xong một hố rănh, đám đông
được lệnh đi tới một đụn cát
để nghỉ đêm. Vài người bị dẫn
đi. Một số la thét lên v́ sợ. Lương thấy
người bạn ở cùng phố mà anh quen từ
mấy năm nay bật khóc nức nở. Một
người hoảng lên chạy quẩn để rồi
bị bắt giữ lại. Lương hoảng hốt.
Chân anh như điện giật. Anh nghĩ phải
liều ngay. Chung quanh cán bộ gác đầy dẫy,
nhưng nếu lao vào được bóng tối th́ có cơ
thoát. Ác mộng tiếp tục. Người la. Kẻ bị
đánh. Người rú lên cười kinh hoàng. Lương
ở trong một đám khá đông đang bước
đi. Đám người khập khễnh lê lết xuyên qua
một đám cây rậm đi xuống đụn cát phía
Nam. Khi họ xuống đồi, Lương lách
người lao vào bóng tối. Một viên đạn rít bên
tai. Anh phóng qua đám rừng, tai vẫn nghe tiếng
đạn và tiếng la hét. Chỉ vài phút anh tới
một con suối và chạy theo ḍng nước
hướng về phía Đông. Anh đi suốt đêm, thỉnh
thoảng bị khuất động bởi trái sáng thả
từ máy bay và tiếng đại bác. Sáng ra thấy ḿnh
băng qua một con đường sắt. Từ đó
tiếp tục đi tới quốc lộ, ḷng mong ngóng
sớm thoát được vùng tử địa. Xế
chiều anh tới con đường phía Nam cách Phú Bài mấy
dặm. Măi tới ngày 16 tháng 2 Lương mới về
lại được thành và kể cho chị Kim những
ǵ đă xảy ra...
Người
ta đoán rằng đám nạn nhân từ Phú Cam tiếp
tục đi nhiều ngày nữa về hướng Nam,
xuyên qua một vùng cây cối khó đi. Măi tới trung
tuần tháng 9-69 người ta mới t́m thấy xác họ
trong một con suối nhỏ, khe Đá Mài, con suối chảy
ra khe Đại đổ vào sông Hương... Trong số 428
bộ cốt t́m được ở đó, rất ít
được nhận diện. V́ không t́m thấy ở
đâu khác, gia đ́nh họ Nguyễn (thân nhân người
lính trẻ) tin rằng con ḿnh đă chấm dứt cuộc
đời nơi khe suối này...
Mồ Tập Thể
Mồ tập thể
được khám phá đầu tiên ở trường
trung học Gia Hội, nằm bên cạnh khu dân cư.
Sở dĩ cư dân gần đó biết được
là v́ họ nghe tiếng súng và biết ở đó có mở
ṭa án nhân dân. Một số người sau khi tham dự
phiên ṭa đầu tiên đă liều trốn và may mắn
thoát. Một số khác nhờ bơi qua sông. Trước
ngôi trường có tất cả 14 hố gồm 101 tử
thi. Sau ba ngày t́m kiếm, người ta khám phá thêm một
số hố rải rác trước, sau và bên hông
trường, nâng tổng số tử thi lên 203, gồm xác
thanh niên, người già và phụ nữ.
Trong số
xác trẻ có 18 sinh viên. Một số trong bọn họ là
những sinh viên đă bỏ vô bưng theo Mặt Trận
sau vụ đấu tranh chống chính quyền, nay trở
về bắt các sinh viên khác theo họ. Khi Mặt Trận
chuẩn bị rút, các sinh viên được phép chọn
hoặc vô bưng hoặc ở lại thành. Kẻ chọn
ở lại bị giết và chôn tại trường.
Những sinh viên khác của Gia Hội không theo Mặt
Trận cũng chịu chung số phận. Có hố
vừa chôn được hai hoặc ba tuần; số c̣n
lại rất mới. Những xác đầu tiên được
lính Thủy Quân Lục Chiến Cộng Ḥa khám phá ngày
26-02-1968.
Trong số nạn nhân có cô
Hoàng Thị Tam Tuy (các tên riêng và địa danh nào không
đoán được sẽ ghi lại đúng như tác
giả đă ghi - Người dịch), 26 tuổi, rất
xinh, bán hàng ở chợ, nhà tại đường Tô
Hiến Thành, Gia Hội. Bị quân Mặt Trận, theo
lời kể của chị/em cô, vào nhà bắt đi
đưa vào trường điều tra ngày 22 tháng 2,
rồi chẳng thấy trở về. Xác cô chân tay bị
trói, miệng nhét đầy giẻ, ḿnh mẩy không
thấy một vết thương nào. Xác cô nằm chung
với bốn nạn nhân khác, mà hai trong số đó có bà
con với chị/em dâu cô. Trong số các nạn nhân khác có bà
góa Dương Thi Co, 55 tuổi, nghề bán guốc, 4 con.
Bị bắt tại nhà ngày 22-02, đưa vào
trường Gia Hội và bắn chết. Xác bà
được các con nhận diện ngày 26-02. Người
thứ ba là Lê Văn Thắng, 21 tuổi sinh viên ở Gia
Hội. Anh bị bắt đi tham dự lớp huấn
luyện ngày 14-02. Xác được gia đ́nh phát hiện
và nhận diện ngày 16-03, chung hố với hai nạn
nhân khác trong khuôn viên trường.
Người thứ tư là
Trần Đ́nh Trọng, sinh viên kỹ thuật và mới
lập gia đ́nh. Bị bắt ngày 06-02, t́m thấy xác ngày
26-02. Người thứ năm Nguyễn Văn Dong,
cảnh sát 42 tuổi, bị bắt ngày 17-02 ở nhà
một người quen và bị chôn sống, tay trói tại
trường Gia Hội. T́m thấy xác ngày 26-02.
Người thứ sáu là Lê Văn Phú, 47 tuổi, cảnh
sát. Bị bắt tại gia ngày 08-02. Vợ con van xin
Mặt Trận cho phép chồng ở lại nhà, nhưng
tối hôm đó bị hành quyết, bị bắn vào
đầu, xác t́m thấy ngày 26-02, ở khuôn viên
trường. Người thứ bảy, bà Nguyễn Thi
Lao, buôn thúng bán bưng, 48 tuổi. Bị bắt trên đường
lộ. Xác t́m thấy ở trường học, tay bị
trói, miệng nhét đầy giẻ; ḿnh mẩy không bị
một vết thương nào. Có lẽ bà bị chôn
sống. Những xác khác t́m thấy gồm một
đại úy cộng ḥa, hai trung úy, ba trung sĩ và mấy
viên chức hành chánh. Bốn xác người của Mặt
Trận.
Vùng
mồ lớn thứ hai được khám phá gồm 12
hố với 43 tử thi ở Chùa Theravada, thường
gọi là Tăng Quang Tự.
Vùng
thứ ba tại Băi Dâu với 3 hố, 26 xác. Trong số
nạn nhân ở Chùa có ông Phan Ban Soan, 60 tuổi, sinh tại
Phú Vang, Thừa Thiên, nhà ở đường Tô Hiến
Thành, có gia đ́nh, 5 con. Ông Soan làm nghề thợ may,
trước có tham gia vụ Phật giáo chống tổng
thống Diệm. Năm 1961 bị bắt v́ chống chính
quyền, được thả năm 1967. Bị Việt
cộng bắt đi tối 12-02 trên đường Chi
Lăng, Gia Hội. Cộng sản phân công ông chôn xác
chết và phân phối gạo. Xác ông tay bị trói, bị
bắn xuyên đầu, dập cùng hố với 7
người khác.
Một người khác t́m
thấy ở Chùa là ông Đặng Cơ, 46 tuổi, nghề
thầu khoán, bị bắt tại gia ngày 06-02, t́m thấy
xác ngày 26-02. Một người khác nữa là ông Ngô Thông, 66
tuổi, nhân viên hành chánh hồi hưu, bị bắt ngày
08-02, xác dập chung với 10 người khác. Một
số tử thi có vết thương, một số tay
bị trói giật cánh khỉ bằng dây thép gai, và một
số miệng bị nhét giẻ.
Lần đầu tiên nói
chuyện với đồng bào trong vùng, tôi tưởng
chỉ có 16 xác ở Chùa và 3 xác khác ở Băi Dâu. Nhưng bên
hông và sau Băi Dâu có nhiều hố chôn. Tất cả ở
đây chết v́ bị trả thù. Một vài người
là thành viên Mặt Trận nhưng bị giết v́ muốn
ở lại thành. Họ đều là dân Gia Hội.
Bốn tháng sau, tháng 08-68, tôi trở lại đây
để t́m hiểu thêm uẩn khúc của những cái
chết. Thân nhân các nạn nhân lẫn dân địa phương
đều xác nhận những điểm trên.
Tiết lộ về
"mồ chôn tập thể" đầu tiên của
chính quyền miền Nam là vào ngày 28-02-68, khi phát ngôn nhân chính
phủ cho biết về một hầm "ghê gớm
ở Cồn Hến gồm 100 xác công chức và quân nhân
bị bắt khoảng đầu tháng". Cũng theo phát
ngôn viên, "các nạn nhân bị Việt cộng giết,
thân xác họ không được lành lặn". Cồn
Hến nằm giữa sông Hương. Lúc đầu
Mặt Trận không màng chiếm Cồn. Nhưng sau nó
trở thành một vị trí chiến lược cho
việc tiến quân và rút quân từ Gia Hội ra vùng cát Đông
Nam, vùng họ chiếm từ nhiều năm nay. Chính
quyền xác nhận có 101 xác trong hầm. Theo đồng bào
chạy thoát từ Cồn th́ trong số nạn nhân có
nhiều người nam mang quân phục, một vài
người bận đồ kaki của Mặt Trận,
một số khác bận áo ḍng ngắn, một vài
người mang quân phục lính cộng ḥa và một vài
người bận thường phục. Tôi hỏi nhân
viên chính quyền địa phương về tên tuổi
các nạn nhân th́ được trả lời là các tử
thi không được nhận diện đầy
đủ; họ xác nhận là không thể nào quả
quyết tất cả đều bị hành quyết; một
vài nạn nhân có thể đă chết trong khi giao tranh và vài
xác khác, cũng theo họ, là của quân thù.
Vùng
chôn thật sự thứ tư nằm sau Tiểu
chủng viện, nơi dựng ṭa án nhân dân. Hai hầm
chứa xác ba người Việt làm việc cho ṭa
đại sứ Hoa Kỳ, hai xác người Mỹ là ông
Miller và ông Gompertz, nhân viên USOM, và xác một giáo sư trung
học người Pháp bị giết v́ lầm là
người Mỹ. Tất cả đều bị trói tay.
Xác t́m thấy và liệm ngày 09-02. Xác hai người Mỹ
và người Pháp được đưa về Đà
Nẵng.
Quận Tả Ngạn, vùng thứ năm, do một
quân nhân người Úc khám phá ngày 10-03-68. Ba hầm rănh
với 21 tử thi, tất cả đều nam giới,
tay bị trói, đạn bắn xuyên đầu và cổ.
Một hầm khác, vùng thứ
sáu, nằm cách Huế 5 dặm về hướng Đông,
được khám phá ngày 14-03-68 do một cố vấn
quân sự Mỹ cùng toán lính Việt đi kèm. Hai lăm xác,
tất cả đều bị bắn vào đầu, tay
trói giật cánh khủyu. Nhờ một cánh tay của
một nạn nhân nhôi ra khỏi mặt đất mà
hầm được khám phá.
Phía Nam Huế qua hoàng thành
ở Nam Giao là nơi mộ phần của vua Tự
Đức và Đồng Khánh. Nơi đây là vùng chôn tập thể thứ bảy. Đây đó trên
dưới hai chục hầm, có cái giữa đất
bằng, có cái dưới bụi cây, có cái bên bờ
suối. Bên cạnh hầm lớn, có những hố
nhỏ chứa một, hai hoặc ba xác. Hầm đầu
tiên được khai quật ngày 19-03-68, nhưng măi cho
tới tháng 6-69 vẫn c̣n xác được tiếp
tục phát hiện. Ban đầu c̣n dễ nhận
dạng, vài xác mang quân phục, ngoài ra c̣n lại
thường phục. Đặc biệt ở đây không có
xác phụ nữ và trẻ con. Càng về sau việc
nhận diện trở nên khó khăn. Dù vậy, cuối hè
1969, người ta cũng nhận diện được
xác bố của ông thôn trưởng thôn Than Duong. V́ con trai
vắng mặt nên cụ già bị bắt thay con. Về sau
con đi t́m cha măi không gặp. Xác cha, đạn xuyên
đầu và ót, được t́m thấy tháng 6-69.
Cũng trên đường
hướng Nam đó là Tu viện Thiên An, nơi xảy ra
trận chiến ác liệt trong thời gian cộng sản
tấn công. Khi buộc phải triệt thoái, cánh quân
chiếm đóng phía Nam thành phố rút lên núi và chiếm
giữ ngôi Tu viện xây cách đây 26 năm, cách Huế 6
cây số hướng Nam, vào ngày 21-02. Lúc đó Tu viện
đang là nơi lánh nạn cho hơn 3000 người.
Mặc cho các cha ḍng van xin, cộng sản đă cho thần
hỏa thiêu rụi ṭa nhà chính trong ṿng hai ngày. Các ṭa nhà bên là
chỗ sinh kế của nhà ḍng cũng bị lửa
đạn thiêu hủy. Thư viện gồm những pho
thư khố và thủ bút quư thời vua chúa cũng chung
số phận.
Cha Dom Romain Guillaume, một
trong những linh mục của ḍng, bị một lính
Việt cộng bắn vào vai lúc rời khỏi ṭa nhà cháy
sau khi đă di tản hầu hết dân tỵ nạn.
Một linh mục người Việt bị bắn vào
chân. Khi rút khỏi đống gạch vụn Tu viện
ngày 25-02, Cộng quân mang theo trên 200 người, trong đó
2 linh mục người Pháp, cha Urbain, 52 tuổi, và cha Guy,
48 tuổi và một số tu sĩ linh mục, tập sinh
và người giúp việc. Những người này bị
lọc bắt trong thời gian cộng quân chiếm Nhà ḍng
và được dẫn đi về hướng Nam. Đa
số bọn họ kết liễu cuộc đời
gần chỗ lăng các vua. Tới tháng 6-69, tổng
cộng 203 xác được khai quật. Trong số
nạn nhân ở lăng Tự Đức có Đoàn Xuân Ṭng, 20
tuổi học sinh trung học, nhà ở làng Nguyệt
Biểu, quận Hương Thủy. Em biến mất khỏi
nhà ngày 06-02-68. Xác em được thân nhân t́m thấy bên
cạnh lăng vua ngày 19-03-68, chôn chung với năm
người khác cùng làng. Tại lăng Đồng Khánh có xác
linh mục Urbain lấp cùng một hố với 10
người khác. Một người Việt khai quật
xác cho tôi hay tay linh mục bị trói, ḿnh không có một
vết thương, chứng tỏ có lẽ bị chôn
sống. Xác ông liệm ngày 23-03-68 và sau đó
được một linh mục đồng ḍng nhận
diện. Vị linh mục này không thể xác nhận
được là tay cha Urbain có bị trói hay không. Sự
kiện không có xác đàn bà và con trẻ trong các hầm
chứng tỏ các nạn nhân đă bị hành huyết dă
man chứ không phải chết trong lúc giao chiến. Nếu
bị pháo kích hoặc oanh tạc th́ chắc chắn đă
có người bị thương và sống sót, hoặc có
người chết không toàn thây. Và chắc rằng họ
không phải bị chôn tại chỗ, bởi theo phong
tục người chết luôn được mang về
nhà ḿnh để hồn họ khỏi phải vất
vưởng muôn kiếp.
V́ thế nguyên tắc của
đối phương là phải giấu nạn nhân
thế nào để không bị khám phá, mà nếu có bị
khám phá th́ cũng không nhận diện được là ai.
Ngoài thi hài cha Urbain, thi hài cha
Guy ḍng Thiên An cũng được t́m thấy trong một
hầm riêng ngày 27-03-68 gần lăng Đồng Khánh, với
vết đạn ở đầu và cổ.
Vùng
chôn thứ tám ở cầu An Ninh khám phá ngày 01-03 với
20 xác. Trong số tử thi có ông Trương Văn
Triệu, trung sĩ lính Cộng ḥa. Trung sĩ Triệu có
vợ và 5 con. Du kích cộng sản địa phương
bắt ông ở trường mẫu giáo Kim Long, nơi ông
ẩn trốn. Bị trói và dẫn đi. Nhờ dân chúng
gần đó cho hay Việt cộng có chôn xác người
gần cầu nên vợ ông đă t́m được xác
chồng sau đó.
Xác ông Trần Hy, thuộc
lực lượng Nhân Dân Tự Vệ, có vợ 4 con,
cũng được lấp cùng hầm với ông
Triệu. Ông bị bắt ngày 20-02 khi đang trốn trong
nhà một láng giềng. Tay bị trói cánh khuỷu,
người không có vết thương nào.
Vùng
chôn thứ chín ở cửa Đông Ba, nơi xảy ra giao
tranh lớn. Đây chỉ có một hầm 7 người
bị bắt tại gia và giết sau đó. Trong đó có
ông Tôn Thất Quyền, 42 tuổi. Có gia đ́nh với 10
người con, bị bắt và dẫn đi hôm 08-02-68. Gia đ́nh t́m được
xác ông ngày 05-05-68.
Địa điểm thứ
mười là trường tiểu học An Ninh Hạ,
một hầm 4 xác, trong đó có cảnh sát Trần
Triệu Túc, 52 tuổi, có vợ 7 con. Ông bị bắt
tại nhà và mang đi ngày 05-02-68. Xác t́m được ngày
17-03-68 ở trường, mang vết thương ở
đầu và cổ. Ba xác c̣n lại: một sinh viên,
một quân nhân và một cảnh sát.
Địa điểm thứ
mười một là trường Van Chi, một hầm
8 xác. Trong đó có anh Lê Văn Loang, thợ máy, 35 tuổi, có
vợ 6 con. Theo lời chị Loang, anh bị bắt đi
dự lớp huấn luyện ngày 06-02. Khi bị dẫn
đi, chị và các cháu chạy theo van xin nhưng vô
hiệu. Họ ra lệnh mẹ con chị phải quay
trở về. Xác anh được những gia đ́nh
đi t́m xác người thân t́m thấy ngày 10-03-68 gần trường.
Một vài xác bận quân phục, 4 xác chắc chắn là
thường dân, trong đó có một sinh viên.
Địa điểm thứ
mười hai ở chợ Thông, cách nội thành 2 cây
số về hướng Tây. T́m được 102 xác. Trong
đó có ông Nguyễn Ty, 44 tuổi, thợ xây gạch, có
vợ 6 con. Bị bắt ngày 02-02-68 và có lẽ bị
giết ở chợ cùng với nhiều nạn nhân khác.
T́m được xác ngày 01-03, tay bị trói, một viên
đạn từ ót bung ra cửa miệng. Nhiều
người khác cũng bị bắn, tay trói. Có nhiều
xác đàn bà nhưng không có trẻ con.
Địa điểm thứ
mười ba là vùng lăng Gia Long, ở Thiện Hàm bên
bờ sông Hương, cách thành phố khoảng 16 cây
số hướng Nam và cách Đàn Nam Giao cỡ 13 cây số Tây
Nam. Gần 200 xác được t́m thấy dưới các
đám cây và bụi rậm, gồm học sinh, sinh viên, nhân
viên hành chính, quân nhân và nhiều phụ nữ. 27 người
thuộc làng lân cận. Sau khi an ninh tạm văn hồi, các bà
đi t́m chồng đă khám phá ra địa điểm này.
Lúc đầu, họ không dám đi quá xa. Nhưng hai ngày sau,
25-03-68, họ đụng vào một miếng đất
mới đào trên triền một trong nhiều thung lũng
nhỏ trong vùng. Xác người thân họ nằm nơi
đây, tay bị trói cánh khủy, đạn bắn từ
sau cổ xuyên qua miệng.
Có
nhiều rănh hầm nối nhau với nhiều xác. Một
số nạn nhân từ nội thành, những người
khác từ các làng lân cận. Một số là sinh viên từ
Huế về nhà ăn tết.
Địa điểm thứ
mười bốn nằm ở giữa Chùa Tăng Quang
và Tường Vân, 2,5 cây số Tây Nam Huế. Ở đó có
xác 4 người Đức, 3 bác sĩ và một bà vợ, t́m
thấy ngày 02-04-68.
Địa điểm mười
lăm ở Đông Gi, 16 cây số phía đông Huế trên
đường ra bờ biển, t́m thấy ngày 01-04-68. 101
xác, đa số bị trói và miệng nhét đầy
giẻ. Tất cả đều nam giới, trong đó có15
sinh viên, nhiều quân nhân và nhân viên hành chính, già lẫn
trẻ. Một vài xác không thể nhận diện
được.
Tới
tháng 05-68, tổng cộng có trên 900 xác người bị
coi là mất tích đă được t́m thấy. Dĩ
nhiên c̣n nhiều người chưa được tính...
Đầu năm 1969 nhiều địa điểm khác
được khám phá.
Điểm chôn thứ mười
sáu: Đầu tiên ở làng Vinh Thái. Địa điểm
thứ hai ở làng Phú Lương. Địa điểm
thứ ba ở làng Phú Xuân, tất cả thuộc quận
Phú Thứ. Tất cả được t́m thấy trong
khoảng từ tháng 01 tới tháng 08-69. Quận này với
quận kế bên bị cộng sản chiếm nhiều
năm và nơi đây xảy ra nhiều cuộc không
tập kéo dài nhiều tháng. Măi tới đầu năm 1969
quân Cộng ḥa mới tiến vào được vùng này...
Ba
làng này cách thị xă Huế chừng 15 cây số về các
hướng Đông và Đông Nam, cách bờ biển từ 3
tới 5 cây. Theo các viên chức địa phương, trên
800 xác được t́m thấy trong các vùng trên trong ṿng 6
tháng. Có hầm đào sâu, có hầm cạn. Nhiều xác chôn
lâu rồi, quần áo đă mục...
Trong số nạn nhân
người ta nhận diện được 16 học
sinh trung học, theo học ở Huế nhưng về quê
ăn tết. Cả nhân viên hành chính, đàn ông, đàn bà,
trẻ em, già lẫn trẻ. Một số tay bị trói,
đa số đều chôn cùng một hố. Vùng làng Vinh
Thái đào được 135 xác; làng Phú Lương 22; và
làng Phú Xuân đợt đầu 230, đợt sau, khám phá
vào cuối năm 69, 375 xác. Dù thời gian qua lâu, nhưng
nhờ lượng muối cao của đất vùng này
giữ, đa số tử thi hăy c̣n có thể nhận
diện được. Nhiều nhân viên hành chính và quân nhân,
bị bắn ở cổ và đầu. Đa số nạn
nhân thuộc nam giới. Một vài phụ nữ và trẻ
em và một vài người mang nhiều loại vết
thương. Có các linh mục, tu sĩ và chủng sinh
của các làng lân cận mất tích từ hơn 20 tháng
kể từ biến cố tháng 02-68. Trong số 357 xác có
cha Bửu Đồng, một cha sở quận Phú Vang và 2
chủng sinh. Cha Đồng dấu được trong túi
sau bộ đồ ngủ đen trên người một
hộp mắt kính trong đó có ba bức thư tiếng
Việt. Một trong ba lá thư này, có bản chụp
trưng bày ở nhà thờ chính ṭa Huế, ông viết cho
bổn đạo ḿnh (thư t́m thấy trên thi thể ngày
8-11-69).
«Các con yêu dấu,
«Đây là bút tích cuối cùng
để nhắc cho các con ghi nhớ bài phúc âm thánh Phêrô trên
thuyền băo táp... (3 chữ đọc không ra) đức
tin. Lời cầu chúc của Cha ngày đầu xuân cho
mọi công việc Tông đồ của Cha giữa chúng con,
nhớ... (hai chữ đọc không ra) khi sự sống
của Cha sắp kết liễu theo ư Chúa.
«Hăy mến Mẹ sốt
sắng lần hột, tha mọi lỗi lầm của
Cha, xin cám ơn Chúa với Cha, xin Chúa tha tội cho Cha và
tận t́nh thương nhớ cầu nguyện cho Cha
được sống trong tin tưởng, kiên nhẫn,
trong khắc khổ để kiến tạo ḥa b́nh
của Chúa Kitô và phục vụ tinh thần Chúa và mọi
người trong Mẹ Maria. Xin cầu nguyện cho Cha b́nh
an sáng suốt và can đảm cùng mọi sự đau
khổ tinh thần, thể xác và gởi mạng sống cho
Chúa qua tay Đức Mẹ.
«Hẹn ngày tái ngộ trên
nước Trời. Chúc lành cho
chúng con”.
(Chữ kư Cha Đồng)
Điểm chôn thứ mười
bảy ở làng Thượng Ḥa, quận Nam Ḥa, bên
bờ sông Tả Trạch, một phụ lưu sông
Hương phía Nam lăng Gia Long. 11 xác được t́m
thấy giữa các lùm cây trong tháng 07-69. Chỉ có ba xác
nhận diện được là người của làng
bên cạnh. Tất cả đều mang vết
thương cổ và đầu, dấu chỉ của
sự hành quyết.
Điểm thứ mười tám
ở Thúy Thạnh, quận Hương Thủy, t́m thấy
tháng 04-69, và ở làng Vinh Hưng, quận Vinh Lộc, t́m
thấy tháng 07-69. Cả hai làng nằm trong vùng bị
cộng sản chiếm từ lâu... Trên 70 xác, nhiều xác
không c̣n nhận diện được nữa, đa
số là đàn ông, vài đàn bà và trẻ con. Họ
được nhận diện là người của các
làng lân cận và vài người có thể bị chết v́
chiến cuộc bởi ḿnh họ mang nhiều vết
thương và xác không toàn vẹn. Các nạn nhân khác bị
bắn ở cổ và đầu.
Điểm thứ mười chín
t́m thấy vào tháng 09-69 ở Khe Đá Mài, quận Nam Ḥa,
một con suối nhỏ chảy vào Khe Đại, phụ
lưu sông Hương. Khe chứa đầy xương
người, có xương đủ bộ, có xương
nằm riêng, sọ nằm riêng; tất cả
được nước suối mài trắng tinh. Dân
đi cưa gỗ t́m thấy địa điểm này. Nạn
nhân có lẽ đă được chôn bên bờ suối
trong mùa mưa và nước suối đă dần soi ṃn
đất để lộ xác ra, cũng có thể là
nạn nhân bị vất xuống suối, chứng cớ
là các mảnh quần áo được t́m thấy dọc
bờ hoặc ngay dưới khe, th́ việc chôn lấp
nạn nhân có lẽ xảy ra trong các tháng mùa mưa (tháng
hai, ba, tư). Và điều này có nghĩa là nạn nhân
đă được dẫn thẳng tới đây
hoặc được mang tới đây sau khi bị bắt
một thời gian ngắn. Nếu chôn trong mùa suối khô,
th́ sự kiện xảy ra trong khoảng từ tháng 06
tới 10.
Có
lẽ để giữ bí mật khi rút lui Việt cộng
đă thanh toán vội vàng các nạn nhân tại đây. Theo
luật thông thường, đặc biệt là ở các
vùng nông thôn, kẻ thù thường chôn cất xác
đồng đội đàng hoàng. Tuy nhiên cũng có
thể đây là xương và sọ của lính Mặt
Trận và Bắc Việt. Như vậy th́ số phận
nào cho những người Phủ Cam bị mất tích?
Nghiên
cứu các phúc tŕnh quân sự Mỹ th́ không thấy có
một cuộc không tạc lớn hoặc của máy bay B52
nào ở vùng trên, ngoại trừ trận chiến gần
Lộc Sơn vào hạ tuần tháng 04-68, một
địa điểm cách xa nơi đó chừng 10 cây
số. Vả lại lập luận mang người
bị chết v́ bom B52 băng qua vùng đất gập
ghềnh để đưa về chôn ở suối này quả
không vững. Đường lên núi dễ dàng hơn nhiều.
Cũng vậy, nếu kẻ thù bị thiệt hại
nặng ở trận Lộc Sơn và, theo thói quen sẵn
có, đă mang xác 500 đồng đội đi th́ hẳn
lộ tŕnh phải là hướng núi, gần và dễ di
chuyển hơn nhiều, chứ làm sao mà chọn băng
qua cánh rừng dày đặc khó xuyên qua được này.
Trong
thời gian cuộc tấn công của cộng sản có
xảy ra giao tranh lớn kéo dài từ Huế qua Bến Ngự,
tới gần cầu Nam Giao và trong Nhà ḍng Thiên An. Nhưng
đă không có tiếp tục đánh nhau lớn về
mạn Nam, khi quân thù chọn đường rút lui lên núi,
hướng trái với Đá Mài. Khe Đá Mài nằm cách thành
phố 40 cây số về hướng Nam, bên ngoài vùng
lăng tẩm; nơi nầy được coi là vùng không
người, chỉ có cộng quân lai văng. Khe chứa 500
sọ. Địa thế cách trở, cách xa mọi văn minh
bởi rừng đồi vách đá cho thấy
người ta không muốn để số xác kia, xác
của những người mang từ Huế ra bị khám
phá, mà nếu có khám phá th́ cũng không nhận diện
được. Nằm lẫn với xương là các
mảnh quần áo thường, không phải kaki hay vải
màu xanh bộ đội miền Bắc hoặc quân phục
Mặt Trận. Các sọ vỡ xương trán tất
thảy cho thấy bị đánh bởi một vật ǵ
nặng. Một số sọ khác không thấy vết tích ǵ
ở xương, đây có thể là nạn nhân chết
trong lúc giao tranh. Lần lượt tất cả hài
cốt được chuyển về thành phố, nơi
họ ra đi và tống táng trong an b́nh... Sau khi Đá Mài
được khám phá, vẫn c̣n vài trăm người
mất tích. Trong số đó có một số sinh viên,
điển h́nh là các anh Ngô Anh Vũ, Nguyễn Văn Bích.
Cả hai bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam.
Những người khác, viên chức hành chánh, thành viên chính
đảng, thanh niên công giáo, Phật giáo, tu sinh, giáo
chức và quân nhân. Họ bị bắt đi, biệt
tăm tin tức.
Bên
cạnh các hầm chôn tập thể, c̣n có các nạn nhân
lẻ tẻ, bị giết tức tưởi. Có khi
cả gia đ́nh bị tiêu diệt như gia đ́nh ông Nam
Long, thợ buôn, bị bắn cùng vợ và 5 con tại nhà.
Ông Ngô Bá Nhuận bị bắn dă man trước rạp
chiếu bóng địa phương và ông Phan Văn
Tường, lao công, bị giết ngoài nhà ông với
bốn đứa con...
The Vietcong Massacre at
Hue. Vintage Press, New York, 1976
http://dactrung.net/baiviet/noidung.
Nguyễn Lư Tưởng
1-
Tại Phú Cam, khi VC tiến vào làng này, lực lượng
nghĩa quân ở đây chiến đấu rất hăng
say. Nhưng quân số VC quá đông, cấp tiểu đoàn,
nên anh em nghĩa quân giấu súng và chạy lẫn lộn
trong dân chúng. Việt Cộng đă vào nhà thờ bắt
tất cả các người đàn ông, thanh niên đem
đi.
Có hơn 300 người đă
bị bắt trong đó có Lê Hữu Bôi, Lê Hữu Bá... hai
người nầy từ Nam Giao chạy về Phú Cam hy
vọng nơi đây không có VC. Họ đă trốn trong nhà
thờ để tránh bom đạn. Những người
Phú Cam bị bắt, bị giết tập thể tại
khe Đá Mài thuộc vùng núi Đ́nh Môn, Kim Ngọc, quận
Nam Ḥa, Thừa Thiên. Xác chết nằm dưới khe,
thịt thối rữa bị nước cuốn trôi
đi, chỉ c̣n sọ và xương lẫn lộn.
Tháng 10-1969, sau gần hai năm
mới t́m được chỗ đó. Thân nhân đến
nhận các dấu vết như thẻ căn cước
bọc nhựa, quần áo, đồ dùng, tràng hạt,
tượng ảnh. Trong số các di vật nầy có
thẻ căn cước của Lê Hữu Bôi (Bôi là Chủ
Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài g̣n năm 1963, nổi tiếng
qua phong trào tranh đấu của Phật tử chống
TT. Ngô Đ́nh Diệm).
Có những em học sinh bị
bắt trong nhà thờ Phủ Cam, cũng bị giết
chết tập thể bằng đại liên, bằng ḿn
tại Khe Đá Mài như Bùi Kha (16 tuổi), Phan Minh (16
tuổi), Nguyễn Duyệt (17 tuổi) v.v.. Đại úy
Trung, khóa 16 Đà Lạt, sĩ quan liên lạc của SĐ
101 Dù Mỹ bị kẹt ở Phú Cam. Ông trốn ra
được và cùng lực lượng quân đội ta
trở lại tái chiếm Phú Cam đă bị tử
trận.
2-
Tại Thành Nội và Gia Hội là nơi Cộng Sản
chiếm đóng rất lâu, nhiều người bị
bắt, bị đem ra xét xử. Cộng Sản đă
lập ra tổ chức Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Ḥa B́nh
đưa giáo sư Lê Văn Hảo (Đại Học
Văn Khoa Huế) lên làm Chủ Tịch và Thượng
Tọa Thích Đôn Hậu (Chánh Đại Diện
Miền Vạn Hạnh) và Bà Nguyễn Đ́nh Chi (Nguyên
Hiệu Trưởng Trường Đồng Khánh Huế)
làm Phó Chủ Tịch.
Nguy hiểm nhất là bọn
theo phong trào tranh đấu chống chính quyền VNCH
năm 1966 như Hoàng Phủ Ngọc Tường (giáo
sư), Hoàng Phủ Ngọc Phan (sinh viên Y khoa), Nguyễn
Đắc Xuân (sinh viên Sư Phạm), Trần Quang
Long (sinh viên Sư Phạm), Phan Chánh Dinh tức Phan Duy Nhân (sinh
viên) v.v...
Khi quân đội Chính Phủ
ở Sài g̣n ra Huế tái lập trật tự vào mùa hè 1966,
bọn chúng chạy vào chiến khu theo Việt Cộng, nay
trở lại Huế, dẫn VC đi lùng bắt bạn
bè, những sinh viên ở trong các chính đảng quốc
gia chống Cộng như Việt Nam Quốc Dân
Đảng, Đại Việt Cách Mạng và những anh
em công chức, cán bộ, cảnh sát, sĩ quan v.v... bị
kẹt lại trong khu vực VC kiểm soát. Chúng lập ṭa
án nhân dân để xét xử họ, trả thù những
người trước đây đă chống lại chúng.
Trước Tết Mậu Thân
mấy tháng, Lê văn Hảo đă bị Cảnh Sát
Thừa Thiên bắt giam v́ lư do đă phát hành báo bí mật
tuyên truyền chống Mỹ, chống chiến tranh và
ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Nhưng sau đó y đă làm đơn nhận lỗi và xin
khoan hồng, đồng thời giáo sư Lâm Ngọc
Huỳnh, Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa
cũng đă vận động xin chính quyền VNCH
tại tỉnh Thừa Thiên khoan hồng cho y nên ông Đoàn
Công Lập, Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên đă
trả tự do cho y.
Sau khi quân đội VNCH tái
chiếm Thành Nội Huế, Lê văn Hảo chạy theo
Việt Cộng ra Hà Nội và trở lại Huế năm
1975, được cho làm ở Ty Thông Tin Văn Hóa. Nhân
cơ hội được Cộng Sản cho đi Úc, Lê
Văn Hảo đă xin tỵ nạn chính trị, hiện y
đang sống ở Pháp. Trả lời cuộc phỏng
vấn của Đài BBC, y đă xác nhận việc Hoàng
Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan và
đồng bọn đă lập ṭa án nhân dân trong Tết
Mậu Thân để xét xử sinh viên và những
người quốc gia ở Huế là đúng. Y nói y không
tham gia ṭa án đó.
Việt Cộng đă bắt
được ông Nguyễn văn Đăi (Phụ Tá
Đại Biểu Chính Phủ), ông Bảo Lộc (Phó
Tỉnh Trưởng) tại tư gia. Riêng ông Lê Đ́nh
Thương, Phó Thị Trưởng Huế, không chịu ra
đầu hàng khi VC tấn công vào, ông tự tử bằng
lựu đạn. Nghị Sĩ Trần Điền,
Chủ Tịch ủy Ban Canh Nông Thượng Nghị
Viện, một trong những vị lănh đạo cao
cấp của Hướng Đạo VN, đă từng làm
Tỉnh Trưởng Quảng Trị, làm giáo sư ở
Huế, đă bị bắt và bị chôn sống.
Thiếu Tá Từ Tôn Kháng,
Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn Thừa
Thiên, nhà ở 176 Bạch Đằng (gần cầu
Đông Ba) Huế, trốn trong nhà đă ba bốn ngày. VC vào
nhà bắt vợ con ra đứng giữa sân và tuyên bố
nếu ông Kháng không ra tŕnh diện th́ sẽ tàn sát cả nhà
khiến ông phải ra nộp mạng. VC đă trói tay ông,
cột ông vào cọc giữa sân, xẻo tai, cắt mũi,
tra tấn cho đến chết. Thật là dă man và kinh
hoàng. Ông Trần Ngọc
Lộ, Bí Thư Đại Việt Cách Mạng (ĐVCM)
Quận Phú Vang, người lập ra môn phái vơ Thần
Quyền ở Huế, bị bắt cùng với vợ
của ông, đă bị chúng giết để lại
bầy con dại bơ vơ. Anh Trần Mậu Tư,
thuộc Đặc Khu Sinh Viên ĐVCM ở Huế bị bắt
và tra tấn dă man cho đến chết.
Con số đảng viên
ĐVCM chết tại Huế trong Tết Mậu Thân lên
đến trên 300 người. Trước 1975, tôi có giữ
danh sách đó, sau v́ hoàn cảnh phải thủ tiêu, nay
đang sưu tầm lại. Bên VN Quốc Dân Đảng,
có Giáo sư Phạm Đức Phác, ông Lê Ngọc Kỳ
v.v... là những đảng viên cao cấp cũng bị VC
giết chết trong Tết Mậu Thân.
VC đă tàn sát cả nhà bà
Từ Thị Như Tùng và chồng là Trung Tá Nguyễn
Tuấn, chỉ huy Thiết Giáp ở G̣ Vấp, chỉ có
một em bé may mắn sống sót hiện ở Mỹ. Ngày
9-2-1968, tiểu đoàn K.8 của Việt Cộng tấn
công vào làng Dương Lộc, nghĩa quân và dân làng
chiến đấu quyết liệt, VC thiệt hại
nặng. Sau khi nghĩa quân rút ra khỏi làng, VC đă
bắt Linh Mục Lê Văn Hộ và em Nguyễn Tiếp
mới 13 tuổi, giúp lễ cho cha. Chúng đă chôn
sống Linh Mục và em Tiếp tại vùng Chợ Cạn
(Triệu Phong). Tại Phú Vang, VC vào trường La San
bắt ba sư huynh và chôn sống với đồng bào vô
tội. VC cũng bắt Linh mục Bửu Đồng
đi và sau đó đă giết ngài.
3.
Những mồ chôn tập thể tại chùa Áo Vàng
(đường Vơ Tánh), tại Sân Trường Gia Hội,
phường Phú Cát hoặc vùng Phú Vang, Phú Thứ v.v... hàng
trăm nạn nhân bị chôn trong những mồ chôn
tập thể, nạn nhân bị đâm bằng
lưỡi lê, bị đánh bằng cán cuốc vào sọ,
bị bắn bằng súng hay bị chôn sống, tay bị
trói bằng giây điện hay giây tre v.v...
Ba bác sĩ Alterkoster, Discher
và Krainick, người Tây Đức, giảng dạy
tại Đại Học Y Khoa Huế cũng bị VC
giết trong Tết Mậu Thân v́ cho là CIA. Ông Vơ Thành Minh
(người thổi sáo kêu gọi ḥa b́nh ở Genève, 1954),
tết Mậu Thân 1968, ông đang ở trong từ
đường cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự
Huế th́ bị VC bắt và đề nghị ông
đứng ra làm Chủ tịch Liên minh Dân tộc Dân chủ
Ḥa b́nh của VC. Ông từ chối, bị bắt lên núi và
bị chúng giết. Những nơi khác ngoài Huế mà chúng
tôi được biết, cũng không kém phần dă man,
như ở quận Hoài Nhơn, VC đă tàn sát 200
người một lúc trong đó có cả em bé 12-13
tuổi, có các cụ già v.v... v́ tất cả những
người nầy đă cùng ông Nguyễn Giảng
(ĐVCM) chống lại chúng, không chịu đầu hàng.
Nhân dân địa phương có lập bia kỷ niệm,
nhưng bia đá nầy đă bị VC phá sau 30-4-1975.
Theo con số tổn thất
về nhân mạng được chính quyền VNCH công
bố, tại Huế có khoảng 6000 người chết,
trong đó về phía quân đội VNCH có 384 người
chết và 1800 người bị thương, về phía
Mỹ có 147 chết và 857 người bị thương.
Con số nầy đă được các sách vở, báo chí
thời đó ghi lại. Riêng cá nhân tôi trong thời gian làm
Dân Biểu và hoạt động cho Hội Nạn Nhân CS
trong Tết Mậu Thân tại Huế và Thừa Thiên, chúng
tôi ghi nhận được 4000 gia đ́nh có thân nhân
chết, có khai báo tên tuổi để xin trợ cấp.
Thiệt hại ở các tỉnh khác, tôi không rơ.
Nhưng có lẽ không nơi nào
trên toàn lănh thổ VNCH có số tổn thất cao hơn
Huế được, v́ Huế đă bị VC chiếm
giữ trong thời gian quá lâu.
Sau Tết Mậu Thân ít lâu, t́nh
h́nh Huế và Thừa Thiên trở nên yên tĩnh, kế
hoạch b́nh định phát triển rất tốt.
Một số các gia đ́nh nạn nhân bỗng nhiên
được người chết về báo mộng và
họ bắt đầu đi t́m, nhờ đồng bào bí
mật hướng dẫn nên họ đă t́m ra các nạn
nhân. Sau đó chính quyền Huế đă mở các cuộc
hành quân t́m xác nạn nhân và đă t́m được ở
những nơi xa như Phú Vang, Phú Thứ v.v... những
hầm chôn tập thể. Những nơi trong thành phố
đă được phát hiện rất sớm, khoảng
trong ṿng một tuần sau khi VC bị đẩy ra
khỏi thành phố.
Nhưng những nơi xa, có
nơi vài ba tháng, có nơi gần hai năm sau mới t́m
được như tại Khe Đá Mài mà chúng tôi đă
nói trên đây.
Năm 1968 và 1969, có một
ủy Ban đi t́m xác đă làm việc tích cực và họ
cũng đă vào Sài g̣n thuyết tŕnh và trưng bày bằng
chứng tại Quốc Hội (Hạ Nghị Viện).
Theo tôi được biết, ông Vơ Văn Bằng,
nghị viên ở Thừa Thiên đă từng tham gia các
đoàn người đi t́m xác nạn nhân năm 1968, hiện
đang có mặt ở quận Cam, Nam Cali. Những buổi
lễ tưởng niệm và an táng các nạn nhân tại
Huế được tổ chức nhiều lần:
tại núi Ba Vành vào mùa hè 1968 và tại núi Ba Tầng (Ngự
B́nh) vào tháng 10-1969. Những nơi đó đă
được xây dựng thành di tích, trồng cây, dựng
bia v.v... Ngày nay VC đă cho lệnh phá các di tích đó
để cho hậu thế không c̣n nhắc nhở
đến nữa.
Viết về Mậu Thân 1968,
có lẽ phải đến cả cuốn sách dày. Đây
chỉ là một vài điều nhỏ gợi nhớ mà
thôi. Ước mong những người trong cuộc, c̣n
nhớ nhiều, biết nhiều sẽ đóng góp thêm, lên
tiếng bổ túc cho chúng tôi...
Tết Mậu Thân là bài
học cho người quốc gia, cho các thế hệ mai
sau. Khi chúng tôi đứng trước một mồ chôn
tập thể ở Huế, chúng tôi thấy trong đó có
đủ mọi hạng người, không phân biệt tôn
giáo, đảng phái, địa phương hay thành
phần xă hội. Tất cả đều là nạn nhân
của Cộng Sản, cùng chôn chung một hố. Khi thân
nhân đến nhận xác đem đi rồi, chỉ c̣n
lại máu nạn nhân thấm vào đất. Và không ai phân
biệt được trong hố đất đó, đâu
là máu của người Công Giáo hay Phật tử, đâu
là máu của quân nhân hay sinh viên học sinh, đâu là máu
của cán bộ đảng nầy hay đảng nọ.
Tất cả chỉ là máu của người quốc gia,
nạn nhân CS mà thôi.
Năm 1975, khi bước chân
vào nhà tù Cộng Sản, chúng tôi cũng gặp đủ
mọi hạng người, thuộc đủ mọi tôn
giáo, mọi thành phần xă hội. Nhà tù cũng chẳng
khác chi cái mồ chôn nạn nhân VC trong Tết Mậu Thân.
Khi đất nước rơi vào tay Cộng Sản th́
mọi người không phân biệt tôn giáo, đảng phái
đều là nạn nhân của CS hết. Đó là bài
học rất đắt giá cho tất cả chúng ta.
http://www.thienlybuutoa.org/Misc/MauThan1968-01.htm
Cuộc thảm sát tại khe
Đá Mài
Linh
mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải và
Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi
Vài lời mở đầu
Biến cố tết Mậu
Thân sắp được hầu hết toàn thể dân
tộc VN, đặc biệt nhân dân miền Nam, kỷ
niệm lần thứ 40 với trái tim vẫn c̣n rỉ
máu, v́ hàng trăm ngàn nạn nhân của cuộc thảm sát
này –măi cho tới hôm nay- chưa bao giờ nghe
được một lời tạ lỗi và thấy
được một cử chỉ sám hối từ phía
các tay đồ tể là đảng Cộng sản
Việt Nam, đồng bào ruột thịt của họ.
Chúng tôi nói là hàng trăm ngàn người, v́ ngoài con số
14.300 nạn nhân vô tội gồm tu sĩ, công chức, giáo
sư, giáo viên, sinh viên, học sinh, dân thường ở
miền Nam (riêng Huế chiếm gần một nửa), c̣n
phải kể đến 100.000 bộ đội miền
Bắc (con số do chính CS đưa ra) đă bị
nướng vào cuộc tàn sát dân tộc này, cuộc tàn sát
man rợ nhất lịch sử đất nước mà
người chủ xướng là Hồ Chí Minh và các lănh
đạo cao cấp trong đảng CS thời đó.
Chúng tôi viết lên bài này
như nén hương ḷng tưởng nhớ các ân sư,
thân nhân, bằng hữu, đồng nghiệp của chúng
tôi đă bị CS tàn sát trong biến cố ấy như 3
linh mục người Huế là Hoàng Ngọc Bang, Lê Văn
Hộ, Nguyễn Phúc Bửu Đồng, ba linh mục người Pháp là Guy, Cressonnier và Urbain, 3
tu sĩ ḍng Thánh Tâm là Héc-man, Bá-Long, Mai-Thịnh, ba chủng
sinh là Nguyễn Văn Thứ, Phạm Văn Vụ và
Nguyễn Lương, hai sư huynh ḍng La San là Agribert và Sylvestre cùng nhiều người khác…
Chúng tôi cũng viết lên bài này như lời kêu gọi
đảng và nhà cầm quyền CSVN phải biết
thừa nhận sự thật, lănh nhận trách nhiệm,
công nhận tội ác tầy trời mà chính họ đă gây
ra cho dân tộc VN trong những ngày xuân năm 1968, phải
chấm dứt ngay việc tŕnh bày biến cố Mậu
Thân như một chiến thắng lừng lẫy,
phải phục hồi danh dự cho các oan hồn bằng
cách chính thức tạ tội và để tự do cho
bất cứ cá nhân hay tập thể nào tưởng nhớ
các nạn nhân này, phải tôn tạo ít nhất ngôi mộ
tập thể chôn cất di hài của họ tại núi Ba
Tầng (núi Bân), phía Nam thành phố Huế. Ngôi mộ này
lưu giữ hơn 400 bộ hài cốt chủ yếu
bốc từ Khe Đá Mài nhưng đă bị chính CS phá
đổ trụ bia và để cho hoang phế suốt 32
năm trời.
Đây
cũng là điều mà mới đây, trong Thỉnh
nguyện thư viết ngày 29-09-2007 cùng 124 Kitô hữu VN
khác, chúng tôi đă đề nghị với Hội
đồng Giám mục Việt Nam: “Việc tưởng nhớ,
cầu nguyện, minh oan cho họ (các nạn nhân biến
cố Mậu Thân) để linh hồn họ
được giải thoát, gia đ́nh họ được
an ủi là căn cốt trong truyền thống của
mọi tôn giáo và nhất là của Kitô giáo. Đây cũng là
cơ hội để các đao phủ thảm sát
đồng bào bày tỏ thành tâm thiện chí, thống
hối lỗi lầm, dọn đường cho việc
ḥa giải dân tộc cách đích thực. Nhớ lại
năm 2002, nhân kỷ niệm 30 năm biến cố
Đại lộ kinh hoàng Quảng Trị (1972), Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất đă làm lễ
cầu siêu cho các nạn nhân. Chúng con thiết tưởng
Công giáo chúng ta cũng nên nhân cơ hội tưởng
niệm 40 năm biến cố Tết Mậu Thân
để làm nghĩa cử đối với các oan
hồn uổng tử đồng bào đồng
đạo. Vậy chúng con kính xin Quư Đức Cha và
Hội đồng Giám mục can đảm tổ chức
lễ cầu nguyện khắp nơi cho các nạn nhân vô
tội, đặt ra một ngày tạm gọi là “ngày
nhớ Mậu thân”. Đồng thời yêu cầu nhà
cầm quyền cộng sản dựng một tấm bia
mới tại nghĩa trang Ba Tầng (thành phố Huế),
nơi chôn cất hài cốt của hơn 400 nạn nhân, v́
tấm bia cũ đă bị phá hủy ngay sau năm 1975”.
Trong toàn bộ biến cố
Tết Mậu Thân, có lẽ những ǵ xảy ra tại
Huế là đau thương và đánh động hơn
cả. Nhưng trong những ǵ xảy ra tại Huế, th́
có lẽ cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài là rùng
rợn, dă man và thê thảm nhất. Tiếc thay, theo sự
am hiểu của chúng tôi, h́nh như người ta chỉ
biết đến kết cục của nó là hàng trăm
bộ hài cốt dồn lại một đống
dưới khe sau khi thịt thối rữa bị
nước cuốn đi lâu ngày, từ đó suy diễn ra
sự việc hơn là biết rơ diễn tiến của
toàn bộ sự việc kể từ lúc các nạn nhân
bắt đầu bị dẫn đi đến chỗ
hành quyết. Lư do là v́ chỉ có hai con người duy
nhất trong đoàn tử tội đă chạy thoát
được trước khi thảm kịch xảy
đến, họ nắm được một ít chi
tiết nhưng lại chẳng biết rơ địa
điểm, do vụ việc xảy ra giữa đêm khuya
trong rừng già; họ lại c̣n quá trẻ rồi sau
đó đăng lính, mất hút vào cơn băo chiến tranh,
khiến măi tới ngày 19-09-1969, tức gần hai năm
sau, nhờ khai thác tù binh Việt cộng, chính phủ VNCH
mới biết đó là Khe Đá mài trong vùng núi Đ́nh Môn,
Kim Ngọc, thuộc quận Nam Ḥa, tỉnh Thừa Thiên (xă
Dương Ḥa, huyện Hương Thủy ngày nay) và
mới tiến hành việc t́m kiếm hài cốt các nạn
nhân xấu số. Thời gian sau, một trong hai
người đă chết trận, đem theo bí mật
xuống đáy mồ. Chúng tôi may mắn gặp
được chứng nhân duy nhất c̣n lại, nay
gần lục tuần. Ông đă tường thuật
mọi việc cho chúng tôi khá tỉ mỉ. Nhưng v́ lư do
an ninh của đương sự, chúng tôi viết theo
dạng tự thuật để khỏi nêu tên ông. Chúng tôi
cũng xin phép bỏ đi nhiều chi tiết có thể
giúp CS lần hồi dấu vết của ông để báo
thù.
Lm Phêrô Nguyễn Hữu
Giải và Lm Phêrô Phan Văn Lợi
********************************
Hồi ấy tôi mới 17
tuổi, đang là học sinh trung học đệ nhị
cấp. V́ t́nh h́nh bất an, gia đ́nh tôi đă từ quê
chạy về thành phố, cư ngụ tại giáo xứ
Phủ Cam, thôn Phước Quả, xă Thủy Phước,
tỉnh Thừa Thiên (nay gọi là phường
Phước Vĩnh, thành phố Huế) từ mấy
năm trước.
Sáng sớm mồng một
tết Mậu Thân, tôi cùng gia đ́nh đi thăm bà con thân
thuộc và du xuân với các bạn đồng trang lứa,
trong một khung cảnh tạm an b́nh, vắng tiếng
súng, nhờ cuộc hưu chiến mà hai miền Nam Bắc
đă cam kết tuân giữ.
Bỗng nhiên, khuya mồng
một rạng mồng hai tết, nhiều tiếng
đại bác và súng lớn súng nhỏ vang rền khắp
xứ đạo của chúng tôi. Sáng hôm sau, tôi nghe nói
Việt Cộng đang tấn công vào toàn bộ thành
phố Huế và đă chiếm nhiều nơi rồi.
Hoảng hốt, cả gia đ́nh tôi cũng như rất
nhiều giáo dân chạy đến nhà thờ (lúc ấy
mới hoàn thành phần cung thánh và hai cánh tả hữu)
để ẩn trú, v́ đó là nơi an toàn về mặt
thể lư (xây vững chắc, tường vách dày, trần
xi măng rất cao) cũng như về mặt tâm lư (có
thể trông cậy vào ơn phù hộ của Chúa và đông
đảo người bên nhau th́ bớt hăi sợ…). Tôi
thấy đủ hạng: nữ nam già trẻ, linh mục
tu sĩ, ngồi chen chúc nhau cả mấy ngàn người
(giáo xứ Phủ Cam lúc đó lên tới 10.000 giáo dân).
Đang khi ấy, ở bên ngoài, lực lượng
địa phương quân, nhân dân tự vệ cùng các quân
nhân chính quy về nghỉ phép hợp đồng tác
chiến, chống giữ không cho Cộng quân tiến vào
giáo xứ từ hướng An Cựu, Bến Ngự, Nam
Giao, Ngự B́nh... Cuộc chiến đấu xem ra rất
ác liệt!
Thế nhưng, đến
chiều mồng 6 Tết, do lực lượng quá
nhỏ, lại không có tiếp viện (v́ mặt trận
lan khắp cả thành phố Huế và tỉnh Thừa
Thiên), các chiến sĩ đang bảo vệ giáo xứ
đành phải rút lui, bỏ chạy. Thế là VC tràn vào!
Khuya hôm đó, lúc 1g sáng, chúng mang AK và đèn đuốc xông
vào nhà thờ Phủ Cam để gọi là “bắt
đầu hàng” và lục soát mọi ngơ ngách. Sau này tôi mới
biết chúng có ư lùng bắt cha xứ mà chúng nghi là
người chỉ huy cuộc kháng cự, lùng bắt
tất cả những ai mà chúng nghĩ đă chống
cự lại chúng trong 5 ngày qua, cùng mọi cán bộ viên
chức chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa, như xảy ra
tại nhiều nơi khác trong thành phố Huế lúc
ấy.
Thấy chúng vừa xuất
hiện, tôi liền lợi dụng bóng tối, nhanh chân
chạy đến cầu thang sắt phía cánh trái nhà
thờ (gần mộ Đức Cố Tổng Giám mục
Nguyễn Kim Điền hiện nay), leo lên trần xi
măng, sát mái ngói. Từ trên đó, qua mấy lỗ
trổ sẵn để gắn đèn cao áp (nhưng
chưa gắn), tôi mục kích khá rơ sự việc diễn
ra bên dưới. Tôi thấy lố nhố VC địa
phương (du kích nằm vùng) lẫn bộ đội
chính quy miền Bắc. Chúng lật mặt từng
người, chỉ chỏ bên này bên kia. Một câu nói được
lặp đi lặp lại: “Đồng bào yên tâm! Cách
mạng đến là để giải phóng! Các mẹ, các
chị, các em có thể ra về. C̣n các anh được mời
đi học tập, chỉ 3 ngày thôi! Không sao đâu!!!”
Thế là mọi tráng niên và
thanh niên từ 15 đến 50 tuổi đều bị lôi
đứng dậy và dẫn đi, dù là học sinh,
thường dân hay công chức…. Tiếng kêu khóc thảm
thiết vang động cả nhà thờ. Con khóc cha, vợ
khóc chồng, cha mẹ khóc con. Ai nấy linh cảm
chuyến đi “học tập” này sẽ chẳng có ngày
đoàn tụ. Sau này tôi biết thêm là linh mục quản
xứ chúng tôi, cha Nguyễn Phùng Tuệ, nhờ ngồi
giữa đám nữ tu ḍng Mến Thánh Giá với lúp
đội trên đầu, nên may mắn chẳng bị VC
nhận diện. Bằng không th́ bây giờ ngài đă xanh
cỏ. VC ở lại trong nhà thờ suốt đêm hôm
đó vài tên, c̣n những tên khác đi lùng khắp giáo xứ
để bắt thêm một số người nữa,
cũng từ 15 đến 50, thành thử có nhiều thanh
niên hay học sinh gặp nạn.
Sáng hôm sau, lúc 8 giờ,
bỗng có hai tên VC theo thang sắt trèo lên trần và khám phá
ra tôi. Một đứa tên Hồ Sự, du kích gốc Long
Hồ, vừa được đồng bọn giải
thoát khỏi nhà lao Thừa Phủ (là nhà lao nằm giữa
ḷng thành phố Huế, ngay sau lưng ṭa hành chánh tỉnh).
Tên kia là Đỗ Vinh, sinh viên, người gốc làng
Sịa. Sau khi lôi tôi xuống, chúng hỏi tôi tại sao
lại trèo lên núp (nấp). Tôi trả lời là v́ nghe con nít
khóc ồn ào, chịu không nổi, phải trèo lên
đấy để nghỉ.
Chúng dẫn một ḿnh tôi -lúc
ấy chẳng c̣n hồn vía ǵ nữa- đi xuống dốc
nhà thờ, nhưng đến chắn xe lửa th́ quẹo
trái, men theo đường xe lửa tới chắn
Bến Ngự. Từ đây, chúng dẫn tôi lên chùa Từ
Đàm là nơi VC đang đặt bản doanh. Chúng
rất đông đảo, vừa sắc phục vừa
thường phục, vừa bộ đội miền
Bắc vừa du kích nằm vùng miền Nam. Vào trong khuôn viên
chùa, tôi nhận thấy ngôi nhà tăng 5 gian th́ 4 gian đă
đầy người bị bắt, đa số là giáo
dân giáo xứ Phủ Cam của tôi. Gian thứ 5 (đối
diện với cây bồ đề) c̣n khá trống,
để nhốt những người bị bắt trong
ngày mồng 7 Tết. Tôi cũng trông thấy ông Tin, chủ
hiệu ảnh Mỹ Vân, người rất đẹp
trai, đang bị trói nơi cây mít. Một tên VC nói:
- Thằng ni trắng trẻo
chắc là cảnh sát, bắn quách nó đi cho rồi!
May thay, có một người
trong nhóm bị bắt đă vội lên tiếng:
- Tội quá mấy anh ơi,
đây là ông Tin chụp ảnh tại Bến Ngự,
cảnh sát mô mà cảnh sát!
Nhờ thế ông Tin thoát
nạn, được cho về. Tiếp đó, VC
đưa cho tôi một tờ giấy để làm bản
lư lịch. Chúng bảo phải khai rơ tên cha, tên mẹ, tên
ḿnh, nguyên quán ở đâu, cha mẹ làm chi, bản thân bây
giờ làm chi. Khai rơ ràng chính xác, Cách mạng sẽ khoan
hồng. Khai tơ lơ mơ, khai dối láo là bắn ngay
tại chỗ. Lúc ấy không hiểu sao Chúa cho tôi
đủ sự thông minh và điềm tĩnh nên đă khai
hoàn toàn giả, giả từ tên cha mẹ đến tên
ḿnh, và giả mọi chi tiết khác, như nghề của
cha là kéo xe ba gác, nghề của mẹ bán rau hành ở
chợ Xép, bản thân th́ đang học trường
Kỹ thuật!?! May mà bọn VC chẳng kiểm tra chéo
bằng cách hỏi những người cùng giáo xứ
bị bắt đêm hôm trước. Bằng không th́ tôi
cũng rồi đời tại chỗ!
Chúng tôi ngồi tại chùa
Từ Đàm suốt cả ngày mồng 7 Tết, không
được cho ăn ǵ cả. Lâu lâu tôi lại thấy
VC dẫn về thêm một số tù nhân, trong đó tôi nhớ
có cậu Long, 16 tuổi, học sinh, con ông Nguyện ở
xóm Đường Đá giáo xứ Phủ Cam. Thỉnh
thoảng chúng lại trói ai đó vào gốc cây bồ
đề, bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa. Sau này
người ta đếm được có 20 xác, trong
đó có anh Hoàng Sự, vốn là cảnh sát gác lao Thừa Phủ,
bị đám VC khi được thoát tù đă bắt
đem theo lên đây.
VC cũng cho một vài kẻ
về nhắn thân nhân bới cơm nước lên cho
người nhà, nhưng với điều kiện:
nhắn xong phải đến lại trong ngày, bằng
không bạn bè sẽ bị chết thế. Thế là
một số anh em Phủ Cam lên tiếng xin thả ông
Hồ (khá lớn tuổi, làm nghề hớt tóc, nhà ở
gần cabin điện đường Hàm Nghi) để
ông về lo chuyện tiếp tế thực phẩm. Tay VC
liền hỏi: “Ai tên Hồ?” th́ có một cậu thanh niên
nào đó nhảy ra nói: “Hồ đây! Hồ đây!”
Thế là nó được thả về và rồi trốn
luôn, thoát chết. Một vài bạn trẻ cùng tuổi
với tôi cũng được cho về nhắn
chuyện bới xách rồi quyết không lui, nhờ
vậy thoát khỏi cơn thảm tử. C̣n ai v́ hăi sợ
hay thương bạn mà lên lại Từ Đàm th́
cuối cùng bị mất mạng như tôi sẽ kể.
Các “sứ giả” về thông báo với bà con là ai có thân nhân
“đi học tập” hăy bới lương thực lên chùa
Từ Đàm. Vậy là vài hôm sau, người ta ùn ùn gánh
gồng lên đó gạo cơm, cá thịt, muối mắm,
bánh trái ê hề (Tết mà!)… Họ chẳng thấy thân nhân
đâu mà chỉ gặp mấy tên cán bộ VC bảo họ
hăy an tâm trở về nhưng để đồ ăn
lại. Nhờ mưu mô thâm độc này mà VC tạo
được một kho lương thực khổng
lồ để ăn mà đi giết người
tiếp!!
Lân la ḍ hỏi và nh́n quanh, tôi
thấy trong số thanh niên Phủ Cam bị bắt có
rất nhiều người bạn của tôi: anh Trị
tây lai con ông Ngọc đàn ở nhà thờ, con trai ông Hoàng
lương y thuốc Bắc ở chợ Xép, hai con trai ông
Thắng nấu rượu, hai con trai ông Vang thổi kèn,
anh Thịnh con ông Năm, hai anh em B́nh và Minh con ông Thục mà
một là bạn học với cha Phan Văn Lợi… Tôi
cũng nghe nói có hai thầy đại chủng viện mà
sau này tôi mới biết là thầy Nguyễn Văn Thứ,
nghĩa tử của cha Nguyễn Kim Bính và bạn cùng
lớp với cha Nguyễn Hữu Giải, rồi thầy
Phạm Văn Vụ, đồng nghĩa phụ với
cha Lợi…
Khi trời bắt đầu
sẫm tối, VC bắt chúng tôi ra sân xếp hàng và một
tên tuyên bố:
- Anh em yên tâm! Như đă nói,
Cách mạng đưa anh em đi học tập 3 ngày cho
thấm nhuần đường lối rồi sẽ
về thôi! Bây giờ chúng ta lên đường!
Rồi chúng bắt đầu
dùng dây điện thoại trói thúc ké từng người
một chúng tôi, trói xong chúng xâu lại thành chùm bằng
một sợi dây kẽm gai, 20 người làm một chùm.
Tôi nhớ là đếm được trên 25 chùm, tức
hơn 500 người.
Khi chúng tôi bị lôi ra
đường (đường Phan Bội Châu hiện
giờ), chừng 7g tối, tôi thấy có một đoàn
cố vấn dân sự Hoa Kỳ khoảng 14 người
cũng bị trói nhưng sau đó được dẫn
đi theo ngă khác hẳn. Áp giải chúng tôi lúc này không
phải là VC nằm vùng, địa phương, nhưng là
bộ đội miền Bắc, khoảng 30 tên. Bọn
nằm vùng ở lại để đi bắt
người tiếp. Bỗng một kẻ mặc áo
thầy chùa xuất hiện, đến cạnh chúng tôi mà
nói:
- Mô Phật! Dân Phủ Cam
bị bắt cũng nhiều đây! Chỉ thiếu
Trọng Hê và Phú rỗ!
Trọng (con ông Hê) và Phú
(mặt rỗ) là hai thanh niên công giáo, nhưng lại là “tay
anh chị” khét tiếng cả thành phố. Về sau tôi
được biết đa phần những thanh niên
bị bắt đêm mồng 6 Tết tại nhà thờ
Phủ Cam và sau đó bị giết chết đều là
học sinh, sinh viên, thanh niên nhút nhát hiền lành. C̣n hạng
can đảm, có máu mạo hiểm hay hạng “du dăng, anh
chị” đều đă đi theo binh lính, dân quân
để chiến đấu tự vệ hoặc nhanh
chân trốn chạy, không tới nhà thờ trú ẩn, nên
đều thoát chết. Sự đời thật oái
oăm!
Hết đường Phan
Bội Châu, chúng tôi đi vào đường Tam Thai (bên trái
đàn Nam Giao), sau đó men theo đường ṿng đan
viện Thiên An, xuôi về lăng Khải Định (xin
xem bản đồ). Từ con đường
trước lăng Khải Định, VC dẫn chúng tôi
bọc phía sau trụ sở quận Nam Ḥa (lúc đó chưa
bị chiếm), ra đến bờ sông Tả Trạch
(thượng nguồn sông Hương). Chúng tôi lầm
lũi bước đi trong bóng tối, giữa trời
mờ sương và giá lạnh, vừa buồn bă vừa
hoang mang, tự hỏi chẳng biết số phận ḿnh
rồi ra thế nào, tại sao VC lại tấn công vào
đúng ngày Xuân, giữa kỳ hưu chiến!?!
Tới bờ sông, VC cho
chặt lồ ô (nứa) làm bè để tất cả
đoàn người vượt qua phía bên kia mà sau này tôi
mới biết là khu vực lăng Gia Long, thuộc vùng núi
Tranh hay c̣n gọi là vùng núi Đ́nh Môn Kim Ngọc. Lúc ấy
vào khoảng 9g tối. Từ đó, chúng tôi bắt
đầu đi sâu vào rừng, lúc lên đồi, lúc
xuống lũng, lúc lội qua khe, lần theo con
đường ṃn mà thỉnh thoảng lại
được soi chiếu bằng những cây đèn pin
hay vài ngọn đuốc của 30 tên bộ đội.
Tôi thoáng thấy tre nứa và cây cổ thụ dày
đặc. Trời mưa lâm râm. Đến khoảng 11g
rưỡi đêm, chúng tôi được cho dừng
lại để tạm nghỉ ăn uống. Tôi đoán
chừng đă đi được hơn chục cây
số. Mỗi người được phát một
vắt cơm muối mè, đựng trên lá ráy (môn rừng).
Hai cánh tay vẫn bị trói. Ít người ăn nổi.
Riêng tôi làm hai vắt.
Ăn xong th́ được
cho ngủ. Chúng tôi ngồi gục đầu dưới
cơn mưa, cố gắng chợp mắt để
lấy lại sức. Bỗng nhiên như có linh tính, tôi chợt
choàng dậy và thấy rung động toàn thân hết
sức dữ dội. Máu tôi sôi sùng sục trong đầu.
Có chuyện chẳng lành rồi đây! Quả thế, tôi
thoáng nghe hai tên VC gần kề nói nhỏ với nhau: “Trong
ṿng 15–20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết bọn này!” Tôi
nghe mà bủn rủn cả người! Nghĩ ḿnh đang
là học sinh vô tội, lại c̣n trẻ trung, thế mà 15
phút nữa sẽ bị giết chết, tôi như muốn
điên lên. Dù thế tôi vẫn cầu nguyện: “Lạy
Chúa, từ lâu Chúa dạy con phải hiền lành thật
thà, không được làm hại ai, vậy mà giờ
đây lại có người muốn giết con và các
bạn của con nữa. Xin Chúa ban cho con mưu trí, can
đảm và sức mạnh để tự giải thoát
ḿnh…”. Tôi ghé miệng vào tai thằng bạn bị trói ngay
trước mặt: “Tụi ḿnh rán mở dây mà trốn
đi! Mười lăm phút nữa là bọn hắn
bắn chết hết đó!”. Chúng tôi quặt ra tay sau, âm
thầm lần múi dây trói. Nhờ trời vừa mưa
vừa tối, dây điện thoại lại trơn nên
chỉ ít phút sau là nút buộc lỏng, vung mạnh cánh tay là
sẽ bung ra. Chúng tôi cũng mở múi buộc dây thép gai
đang nối ḿnh với những người khác. Tuy
nhiên, chúng tôi vẫn giữ vị thế bị trói thúc ké,
để bọn VC khỏi nghi ngờ. Tôi dặn thằng
bạn tiếp: “Hễ tao vỗ nhẹ sau lưng là
tụi ḿnh chạy nghe!”
Đánh thức chúng tôi dậy
xong, một tên lên tiếng nói lớn cho cả đoàn:
- Chúng ta sắp đến
trại học tập rồi. Vậy trong anh em ai có
một là vàng, hai là tiền, ba là đồng hồ, bốn
là bật lửa th́ nộp lại để Cách mạng
giữ cho, học xong 3 ngày sẽ trả. Kẻo vào
trại, ăn cắp lẫn nhau rồi lại đổ
lỗi cho Cách mạng, nói xấu cán bộ!
Thế là mọi người
riu ríu và khổ sở móc ra những thứ quư giá c̣n
giữ trong người. Ai chậm chạp hoặc
ngần ngừ th́ mấy tên bộ đội tới “giúp”
cho. Bọn chúng lột sạch và cho tất cả vào
mấy cái ba lô vải. Lúc đó tôi mới để ư
thấy tay bộ đội áp giải chùm của tôi
đang mang trên hai vai và cột quanh lưng ít nhất cả
chục cái radio lớn nhỏ mà chắc hắn đă
cướp được của dân dưới thành
phố. Với khẩu AK trên tay lại thêm từng ấy
máy móc trên người, hắn bước đi lặc lè,
chậm chạp, khá cách quăng mấy tên khác.
Chúng tôi lại bắt
đầu đi xuống dốc. Tôi nghe có tiếng
nước róc rách gần kề. Lại một khe nữa!
Được vài bước, tôi vỗ nhẹ vào lưng
thằng bạn. Cả hai chúng tôi vung tay, dây tuột, và
nhanh nhẹn phóng ra khỏi hàng. Lấy hết sức b́nh
sinh, tôi đá mạnh vào gót rồi vào dưới cằm
tên bộ đội áp giải (tên mang cả chùm radio
ấy!). Hắn ngă nhào. Hai chúng tôi lao vào rừng lồ ô.
Bọn VC tri hô lên: “Bắt! Bắt! Có mấy thằng
trốn” rồi nổ súng đuổi theo chúng tôi. Chạy
khoảng mấy chục mét, thoáng thấy có một lèn
đá -v́ trời không đến nỗi tối đen
như mực- tôi kéo thằng bạn ḷn vào trong mất
dạng. Tôi dặn hắn: “VC nó kêu, nó dụ, tuyệt
đối không bao giờ ra nghe! Ra là chết!” Một lúc
sau, tôi nghe có tiếng nói trong bóng đêm: “Bọn chúng
chạy mất rồi, nhưng rừng sâu thế này khó mà
thoát chết nổi! Thôi đi tiếp!!!”.
Khi nghe tiếng đoàn
người đi khá xa, chúng tôi mới ḅ ra khỏi lèn,
đi ngược lên theo hướng đối nghịch.
Chừng 15-20 phút sau, tôi bỗng nghe từ phía dưới
vọng lên tiếng súng AK nổ vang rền và lựu
đạn nổ tới tấp, phải mấy chục
băng và mấy chục quả. Một góc rừng rực
sáng! Chen vào đó là tiếng khóc la khủng khiếp
–chẳng hiểu sao vọng tới tai chúng tôi rơ ràng-
khiến tôi dựng tóc gáy, nổi da gà và chẳng bao
giờ quên được. Hai chúng tôi đồng nấc
lên: “Rứa là chết cả rồi! Rứa là chết
cả rồi! Trời ơi!!!” Lúc đó khoảng 12
đến 12g30 khuya đêm mồng 7 rạng ngày mồng 8
Tết. Tôi bàng hoàng bủn rủn. Sao lại như
thế? Các bạn tôi dưới ấy đều là
những người hiền lành, chưa lúc nào cầm súng,
chưa một ngày ra trận, chẳng hề làm hại ai,
họ có tội t́nh ǵ? Bọn chúng có c̣n là người
Việt Nam nữa không? Có c̣n là người nữa không? Sau
này tôi mới biết đấy là vụ thảm sát
khủng khiếp nhất trong cuộc chiến
Quốc-Cộng. Địa danh Khe Đá Mài –mà lúc ấy tôi
chưa rơ- in hằn vào lịch sử nhân loại và cứa
vào da thịt dân tộc như một lưỡi dao
sắc không bao giờ cùn và một thỏi sắt nung
đỏ chẳng bao giờ nguội.
Chúng tôi tiếp tục
chạy, chạy măi, bất chấp lau lách, gai góc, bụi
bờ, vừa chạy vừa thầm cảm tạ Chúa
đă cho ḿnh thoát chết trong gang tấc nhưng cũng
thầm cầu nguyện cho những người bạn
xấu số vừa mới bị hành quyết quá oan
ức, đau đớn, thê thảm. Sáng ra th́ chúng tôi
gặp lại con sông. Biết rằng bơi qua ngay có
thể gặp bọn VC ŕnh chờ bắt lại, chúng tôi
men theo sông, ngược lên thượng nguồn cả
mấy cây số, đến vùng Lương Miêu
thượng. Tới chỗ vắng, tôi hỏi thằng
bạn:
- Mày biết bơi không?
- Không!
- Tao th́ biết. Thôi th́ hai
đứa ḿnh kiếm hai cây chuối. Mày ôm một cây
xuống nước trước, tao ôm một cây bơi
sau, đẩy mầy qua sông. Rán ôm thật chặt, thả
tay là ch́m, là chết đó. Trời này lạnh tao không
lặn xuống cứu mày được mô!
Đúng là hôm đó trời mù
sương và lạnh buốt. Thời tiết ấy kéo
dài cả tháng Tết tại Huế. Có vẻ như Ông
Trời bày tỏ niềm sầu khổ xót thương bao
nạn nhân vô tội ở đất Thần Kinh này.
Vừa bơi tôi vừa miên man nghĩ tới các bạn
tôi. Máu của họ có xuôi theo triền dốc, ḥa vào gịng nước
sông Tả trạch này chăng? Oan hồn họ giờ
đây lảng vảng nơi nào? Có ai c̣n sống không
nhỉ?
Chúng tôi cập gần bến
đ̣ Lương Miêu. Từ đây, xuôi ḍng sẽ về
trụ sở quận Nam Ḥa, hy vọng gặp binh lính
quốc gia, nhưng cũng có nguy cơ gặp bọn VC
chặn đường bắt lại. Thành thử chúng tôi
nhắm hướng bắc, t́m đường về Phú
Bài. Thằng bạn tôi, do suốt đêm bị gai góc
trầy xước, đề nghị đi trên
đường quang cho thoải mái. Tôi gạt ngay:
- Ban đêm th́ được,
chớ ban ngày th́ nguy lắm. Chịu khó lần theo
đường ṃn!
Chúng tôi thấy máu và bông
băng rơi văi nhiều nơi, chứng tỏ có trận
đánh gần đâu đó. Đang đi, tôi đột
nhiên hỏi thằng bạn:
- Chừ (=bây giờ) gặp
dân th́ mày trả lời ra răng (=thế nào), nói tao nghe.
- Nhờ anh chứ tôi th́
chịu!
Lúc khoảng 9g, chúng tôi gặp
3 thằng bé chăn trâu. Tôi lên tiếng nói:
- Hai anh là học sinh ở
đường Trần Hưng Đạo dưới
phố (con đường chính của khu buôn bán, không nói là
Phủ Cam). Cách mạng (không gọi là Việt cộng)
số về đánh dưới, số c̣n trên ni. Hai anh
vừa mang gạo lên chiến khu hôm qua cho họ. Nay họ
cho hai anh về, nhưng ướt cả áo quần
lại đói nữa. Mấy em biết Cách mạng có
ở gần đây không, chỉ cho hai anh, để hai anh
kiếm chút cơm ăn, kẻo đói lạnh quá!
- Hai anh qua khỏi
đường này th́ sẽ thấy mấy ông Cách mạng
đang hạ trâu ăn mừng!
Thế là chúng tôi hoảng
hốt tuôn vào rừng lại. Chạy và chạy, chạy
tốc lực, chạy như điên, không dừng lại
để nghỉ. Một đỗi xa, chúng tôi mới
hướng ra lại đồng bằng. Bỗng một
đồn lính xuất hiện đằng xa, đến
gần thấy bên trong lố nhố mũ sắt. Phe ta
rồi! Lần này th́ vô đây chứ không đi mô nữa
cả. Nhất định vô! Lúc đó khoảng 10 giờ
trưa. Đây là đồn biên pḥng của một
đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Chúng tôi
nghe từ trong đồn có tiếng dơng dạc vang
vọng:
- Hai thằng VC muốn về
hồi chánh hả? Vào đi! Nhớ để tay lên
đầu. Thả tay xuống là bắn đó!
Chúng tôi nhất nhất tuân
theo. Vào được bên trong, hoàn hồn, chúng tôi mới
nói:
- Hai đứa em là học
sinh ở dưới Phủ Cam, Phước Quả,
bị VC bắt lên rừng từ tối hôm qua với
mấy trăm người khác. Nghe tụi nó định
giết hết, hai đứa em đă liều mở dây
trói, đánh thằng VC rồi bỏ chạy. C̣n mấy
người kia chắc là chết hết cả rồi! Giờ
tụi em chỉ có một nguyện vọng : xin
đồn phát súng cho bọn em đánh giặc với,
chớ không thể đi ra khỏi đồn nữa.
Viên sĩ quan chỉ huy
cất tiếng:
- Tổ quốc đang lâm
nguy! Đứa con nào trung, đứa con nào hiếu lúc này
là biết liền. Thôi, mấy em thay áo quần, xức
thuốc xức men, ăn uống thoải mái rồi ở
lại với mấy anh. Tội nghiệp!!!
Họ hỏi chúng tôi về
chỗ xảy ra cuộc hành h́nh nhưng chúng tôi hoàn toàn
không thể trả lời được. Giữa rừng
rậm lại đêm khuya, biết đâu mà lần. Gần
nửa tháng sau tôi mới gặp lại gia đ́nh họ
hàng, bằng hữu thuộc giáo xứ Phủ Cam đang
chạy về lánh nạn tại Phú Lương và Phú Bài.
Hai chúng tôi quyết định bỏ học để
đăng lính. Phải cầm súng bảo vệ tổ
quốc thôi. Phải báo thù cho anh em bạn bè bị VC
giết quá ư dă man, tàn ác, vô nhân đạo. Tôi nhập
bộ binh. Thằng bạn tôi đi nhảy dù. Nhưng vài
năm sau, tôi nghe tin nó chết trận! Tội nghiệp
thật, nhưng đó là cái chết ư nghĩa!
Đến gần tháng
mười năm 1969, nhờ bắt được và khai
thác mấy tù binh VC, chính phủ VNCH mới biết
địa điểm tội ác chính là Khe Đá Mài, nằm
trong rừng Đ́nh Môn Kim Ngọc thuộc quận Nam Ḥa
(nay là xă Dương Ḥa, quận Hương Thủy).
Nơi đây không thể vào được bằng xe v́ đường
đi không có hoặc không thể đi lọt, mà chỉ vào
được bằng lội bộ. Cây cối chỗ này
rất cao, lá dày và mọc theo kiểu hai tầng, tầng
thấp gồm những bụi tre và cây nhỏ, tầng cao
gồm những cây cổ thụ, với những nhánh
lớn xoè ra như lọng dù che khuất đi những ǵ
bên dưới. Bên dưới hai tầng lá này, ánh sánh
mặt trời không chiếu sáng nổi. Đúng là nơi có
thể giết người mà không cần phải chôn
cất. Công binh đă phải bỏ hai ngày, dùng ḿn phá ngă các
cây cổ thụ để tạo ra một khoảng
trống lớn đủ cho máy bay trực thăng đáp
xuống, và tiểu đoàn 101 Nhảy Dù Quân lực VNCH
đă phụ trách việc bốc các di hài nạn nhân. Các
binh sĩ đă t́m thấy cuối một khe nước
chảy trong veo (về sau mang thêm tên Suối Máu, Phủ Cam
Tử lộ), cả một núi hài cốt, nào sọ, nào
xương sườn, nào xương tay xương chân
trắng hếu, nằm rời rạc, nhưng cũng có
những bộ c̣n khá nguyên. Xen vào đó là dây điện
thoại và dây thép gai vốn đă trói chúng tôi thành chùm.
Rồi áo quần (vải có, da có, len có) nguyên chiếc hay
từng mảnh, lỗ chỗ vết thủng. Rồi
tràng chuỗi, tượng ảnh, chứng minh thư,
ống hít mũi, lọ dầu nóng… vương văi trên
bờ, giữa cỏ, dưới nước. Nhờ
những di vật này mà một số nạn nhân sẽ
được nhận diện. Khi tất cả hài
cốt, di vật được chở về
trường tiểu học Nam Ḥa (nay gọi là Thủy
Bằng) bên hữu ngạn sông Hương, đem phân
loại, thân nhân đă ùa đến và không ai cầm nổi
nước mắt. Tất cả ̣a khóc, nghẹn ngào. Có
người cầu nguyện, có người nguyền
rủa, có người lăn ra ngất xỉu khi khám phá
vật dụng của người thân. Cái chủ nghĩa
nào, cái chế độ nào, cái chính đảng nào đă
chủ trương dă man như thế? đă tạo ra
những con người giết đồng bào ruột
thịt cách tàn nhẫn như thế?
Cuối cùng, đa phần các
hài cốt (hơn 400 bộ) được quy tập
một chỗ, mang tên nghĩa trang Ba Tầng, nằm phía
Nam thành phố Huế, khá cận kề khu vực Từ Đàm
(đất của Phật giáo) và Phủ Cam (đất
của Công giáo). Nghĩa trang xây thành h́nh bán nguyệt. Hai
bên, phía trước, có hai bàn thờ che mái, cho tín đồ
Phật giáo và Công giáo đến cầu nguyện. Ở
giữa, phía sau, một trụ đá dựng đứng
với gịng chữ Hán làm bia tưởng niệm. Từ
đó, tại giáo xứ Phủ Cam của tôi, hàng năm,
ngày mồng 10 Tết được coi là ngày cầu
nguyện tưởng nhớ các nạn nhân Mậu Thân.
Chúng tôi có thể tha thứ cho người Cộng sản
nhưng chúng tôi không bao giờ quên được tội ác
của họ, y như một câu ngạn ngữ tiếng
Anh: “Forgive yes! Forget no!”
Tiếc thay, sau khi vừa
chiếm được miền Nam, Cộng sản đă
dùng ḿn phá ngay trụ bia và hai bàn thờ. Lại thêm một
phát súng vào hương hồn các nạn nhân mà nỗi oan
vẫn chưa được giải. Đến bao
giờ họ mới được siêu thoát đây?
Cũng phải nói thêm một điều đáng tiếc
nữa là trong Đại hội thường niên từ 8
đến 12-10-2007 năm nay tại Hà Nội, Hội
đồng Giám mục Việt Nam đă hoàn toàn im lặng
trước đề nghị Giáo hội Công giáo VN hăy
tưởng niệm 40 năm biến cố này, theo như
Thỉnh nguyện thư mà cha Giải, cha Lợi cùng
nhiều linh mục và giáo dân khác đă viết hôm 29-09-2007.
Kể lại cho hai cha
Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi trong tháng kính
các đẳng linh hồn, 11-2007
Tú Gàn (Lữ Giang)
Trong
bài trước chúng tôi đă đưa một số tài
liệu chứng minh Hà Nội đă quyết định
chiếm Huế và giữ lâu dài, và diễn biến của
các cuộc thảm sát theo chỉ thị của Hà Nội.
Trong bài này chúng tôi xin ghi lại một số chuyện bi
thảm đă xẩy ra trong Tết Mậu Thân và sau Tết
Mậu Thân ở Huế do một số nhân chứng kể
lại.
Có
lẽ cuốn sách viết đầy đủ hơn
cả về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở
Huế là cuốn “The
Vietcong Massacre at Hue” (Cuộc thảm sát của
Việt Cộng ở Huế) xuất bản năm 1976
của Bác sĩ Elje Vannema, người có mặt ở
Huế khi biến cố xẩy ra. Mới đây, hai Linh
mục Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải có
đưa ra lời khai của một nhân chứng giấu
tên kể lại vụ thảm sát ở Khe Đá Mài.
Đọc câu chuyện này chúng tôi thấy giống hệt
câu chuyện do một người có bí danh là Lương
đă kể và được Bác Sĩ Elje Vannema ghi lại
trong cuốn “The Vietcong
Massacre at Hue”, chỉ thêm bớt một số
chi tiết. Chúng tôi tin câu chuyện do Bác Sĩ Elje Vannema và
Linh mục Phan Văn Lợi ghi lại cùng do một
một người kể. Đây là một câu chuyện
rất bi thảm.
Lời
tường thuật của các nhân chứng khác, Việt
Nam cũng như ngoại quốc, cũng sẽ giúp chúng ta
thấy rơ hơn sự dă man của các cuộc thàm sát.
Trong
một bài tường thuật dưới đầu
đề “Mậu Thân:
Nỗi Đau Không Dứt Của Huế”, cụ Lê
Hàn Sinh, người chứng kiến các cuộc thảm sát
ở Gia Hội, Huế, đă cho chúng ta thấy các
cuộc thảm sát đó đă được tiến hành
như thế nào. Cụ viết:
“Với
người dân Huế, khi nhắc đến hai chữ
Mậu Thân, gần như nó không c̣n gắn liền theo
thứ tự của mười hai con giáp, mà là một
tiếng gọi đặc biệt, tượng trưng
cho một cuộc tàn sát man rợ. Thủ tiêu, ám sát, chôn
sống, giết người bằng mă tấu, bằng
bọng cuốc phang vào sau đầu, trói bằng dây thép
gai. Cụ thể là ở khu phố 4 Gia Hội (sau khi
chiếm Huế Cộng Sản chia thành phố ra làm 4 khu)
với tên thợ nề vô học tên Bé được giữ chức chủ
tịch khu phố. Mọi sinh sát nằm trong tay y.
Ước lượng nạn nhân của bọn này lên
tới hàng trăm. V́ tư thù cá nhân, chúng giết cả
những thường dân vô tội.
“Cái
chết của bà Trâm ở đường Mạc
Đĩnh Chi (đường Ngự Viên) là một thí
dụ. Bà bị thị Gái bắn bằng súng AK ngay tại
nhà. Gái nguyên là Việt Cộng nằm vùng chuyên đi giúp
việc quanh các nhà ở phường Phú Cát, Quận 2. Tuy là
đi giúp việc nhưng lúc nào áo quần cũng bảnh
bao, tóc búi kiểu Lào. Gái v́ dây dưa với chồng bà Trâm
nên bị bà này mắng chửi thậm tệ và h́nh như
cũng có đánh đập ǵ đó nên giờ Gái trả
thù món nợ t́nh ngày trước.
“Cũng
cần nói thêm về tên Bé thợ nề. Không ai biết
xuất xứ của hắn. Y hành nghề một cách
độc lập, rất lương tâm; làm từ 7
giờ sáng tới 6 giờ chiều, không nghỉ trưa,
ăn uống thế nào cũng được, tiền
công không đ̣i cao hơn kẻ khác. Do vậy, người
này làm xong lại giới thiệu cho bạn bè. Cứ
thế mà Bé âm thầm điều tra nắm rơ ai làm ǵ
ở đâu, cơ quan nào... để báo cáo cho tổ
chức. Nhờ thế, khi Việt Cộng vào là chúng đă
có một danh sách khá đủ thành phần mà chúng cho là quan
trọng để thanh toán ngay sáng mùng một Tết, không
cần phải gọi ra tŕnh diện tại trường
Gia Hội.